Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP. HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

--------------------

Bản án số: 14/2024/KDTM-ST

Ngày 13/5/2024

" V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Viết Hồng

Ông Trần Văn Khánh

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Anh-Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 04/2017/TLST-KDTM ngày 20 tháng 11 năm 2017 về việc “ Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần X

Địa chỉ : Số E N, Thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thống N-Kế toán trưởng Công ty (Theo Giấy ủy quyền số 85/GUQ-CPXD ngày 11/3/2024 của Tổng giám đốc Công ty).

Bị đơn : Công ty cổ phần xây dựng và sản xuất thương mại Hà Nội

Địa chỉ : Thôn B, xã L, huyện M, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung T-Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/8/2016 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là ông Nguyễn Thống N-người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần X trình bày:

Ngày 16/8/2011, Công ty cổ phần X có ký kết hợp đồng kinh tế với Công ty cổ phần X2. Theo nội dung của Hợp đồng thì Công ty X sẽ cung cấp đá cấp phối cho Công ty X2 để làm đường tại khu vực Hồ Phước T1 thuộc xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Cụ thể:

Công ty X cung cấp cho Công ty X2: -Đá cấp phối loại 1 số lượng 3.700m³, đơn giá là 150.000đ/m3 và công vận chuyển là 50.000đ/m³ = 740.000.000đ.

-Đá cấp phối loại 2 số lượng là 4.300m³, đơn giá là 130.000đ/m³, công vận chuyển là 50.000đ/m³ = 774.000.000đ.

Tổng trị giá hợp đồng là 1.514.000.000đ.

Công ty X có trách nhiệm vận chuyển hàng đến chân công trình tại khu V thuộc xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận cho Công ty X2.

Về phương thức thanh toán và thời gian giao nhận hàng:

-Về phương thức thanh toán:

+Giai đoạn 1: Sau 03 ngày kể từ ngày ký hợp đồng Công ty X2 phải chuyển cho Công ty X 70% giá trị đá loại 2 = 541.800.000đ. 30% giá trị còn lại của đá loại 2 tương ứng số tiền 232.200.000đ, Công ty X2 phải thanh toán chậm nhất là 05 ngày (từ ngày 20/9/2011 đến ngày 24/9/2011) sau khi nhận đủ số lượng 100%, Công ty X2 yêu cầu kèm theo biên bản giao nhận giữa hai bên.

+Giai đoạn 2: Ngày 25/9/2011 đến ngày 29/9/2011 Công ty X2 tạm ứng cho Công ty X 70% giá trị đá loại 1 = 518.000.000đ. 30% giá trị còn lại của đá loại 1 = 222.000.000đ, Công ty X2 phải thanh toán dứt điểm cho Công ty X sau khi nhận đủ số lượng 100%.

Nếu quá hạn thanh toán tại từng giai đoạn trên phải chịu lãi suất 1,67%/tháng và thời hạn là không quá 05 ngày.

-Về tiến độ giao hàng: +Đá Dmax25 loại 2 bắt đầu giao từ ngày 20/8/2011 và kết thúc ngày 20/9/2011.

+Đá Dmax25 loại 1 bắt đầu giao từ ngày 25/9/2011 và kết thúc ngày 25/10/2011.

Ở mỗi giai đoạn Công ty X chỉ cung cấp đá cấp phối cho Công ty X2 khi đã nhận được 70% giá trị của mỗi loại đá theo hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X đã tiến hành cung cấp đá cấp phối cho Công ty X2 theo đúng như thỏa thuận đã ký kết. Đến hết tháng 4/2012 thì việc cung cấp đá cấp phối cho Công ty X2 hoàn thành. Giữa hai công ty đã có bảng đối chiếu công nợ và Công ty X2 đã có bản cam kết thanh toán số tiền nợ cho Công ty X đến hết ngày 08/4/2012 là 372.937.000đ. Trong đó: Số dư nợ đến ngày 30/3/2012 (đã xuất hóa đơn ) là 334.637.000đ; số đá mua thêm đến ngày 07/4/2012 là 38.300.000đ. Công ty X2 cam kết sẽ thanh toán cho Công ty X toàn bộ số tiền nợ trên đến ngày 10/5/2012.

Ngoài ra từ ngày 08/4/2012 đến ngày 30/4/2012 Công ty X2 lấy thêm đá cấp phối với tổng số tiền là 43.300.000đ. Số tiền dư nợ này Công ty X có ghi ở phía dưới bản cam kết thanh toán của Công ty X2.

Đối với số dư nợ đến ngày 30/3/2012 là 334.637.000đ thì Công ty X đã xuất hóa đơn gửi cho Công ty X2.

Còn số dư nợ đến ngày 07/4/2012 là 38.300.000đ và số dư nợ từ ngày 08/4/2012 đến ngày 30/4/2012 là 43.300.000đ. Tổng dư nợ là 81.600.000đ được thể hiện ở 02 hóa đơn ngày 28/4/2012 mà Công ty X đã xuất trình nộp cho Tòa án. Đối với số dư nợ này Công ty X chưa xuất hóa đơn cho Công ty X2 nhưng phía Công ty X2 có xác nhận phần dư nợ mua đá thêm ngày 07/4/2012 với số tiền 38.300.000đ.

Sau khi có bản cam kết thanh toán kể từ ngày 10/5/2012 cho đến nay Công ty X2 đã không thanh toán trả cho Công ty X được đồng nào. Công ty X đã đề nghị Công ty X2 đến để giải quyết số tiền nợ cũng như thanh lý hợp đồng nhưng Công ty X2 đều không hợp tác. Do vậy, buộc Công ty X phải khởi kiện Công ty X2 ra Tòa án.

Tại phiên tòa Công ty X đề nghị Công ty X2 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Công ty X số tiền nợ mua đá cấp phối với tổng số tiền là 372.937.000đ như bản cam kết thanh toán mà Công ty X2 đã cam kết với Công ty X. Còn về số tiền 43.300.000đ mà Công ty X ghi thêm ở phía dưới Bản cam kết thanh toán của Công ty X2 cũng như số tiền lãi phát sinh do chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng tính từ ngày 16/8/2011 đến ngày 31/8/2016 là 360.300.000đ thì Công ty X không đề nghị Công ty X2 phải thanh toán.

Đối với bị đơn là Công ty cổ phần X2: Tòa án đã báo gọi cũng như đến địa chỉ trụ sở Công ty để xác minh nhưng phía Công ty cổ phần X2 không hợp tác làm việc nên Tòa án không tiến hành điều tra được. Do vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 30,35,39,147,227,228,271,273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 428, 432, 438 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 50 Luật thương mại năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  • +Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần X đối với Công ty cổ phần X2.
  • +Buộc Công ty cổ phần X2 phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Công ty cổ phần X số tiền nợ 372.937.000đ.
  • +Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X đối với khoản nợ 43.300.000đ và yêu cầu trả nợ lãi phát sinh.
  • -Về án phí: Công ty cổ phần X2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Công ty cổ phần X được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về thẩm quyền: Công ty cổ phần X được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 4500221195, đăng ký lần đầu ngày 11/4/2002, đăng ký thay đổi lần thứ 17 ngày 14/6/2023. Công ty cổ phần X2 được Sở kế hoạch đầu tư Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0103341114, đăng ký lần đầu ngày 12/02/2009, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 01/02/2016. Do Công ty cổ phần X2 vi phạm hợp đồng không thanh toán trả tiền theo như hợp đồng mua bán đã ký kết giữa hai bên nên ngày 31/8/2016, Công ty cổ phần X đã làm đơn khởi kiện Công ty cổ phần X2 đến Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận. Tuy nhiên do Công ty cổ phần X2 có trụ sở đóng tại thôn B, xã L, huyện M, Hà Nội nên ngày 21/8/2017 Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T có Quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội . Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Hợp đồng kinh tế số 406/HĐKT-2011 ngày 16/8/2011 đáp ứng đủ điều kiện của chủ thể ký hợp đồng và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên là hợp đồng dân sự hợp pháp. Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa.

-Về sự vắng mặt của bị đơn: Đối với bị đơn là Công ty cổ phần X2, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 2 lần nhưng tại phiên tòa hôm nay Công ty cổ phần X2 vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

-Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa Công ty cổ phần X đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ 43.300.000đ và tiền lãi phát sinh do chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế số 406/HĐKT-2011 ngày 16/8/2011 tính đến ngày 31/8/2016 là: 360.300.000đ. Xét việc rút yêu cầu của Công ty X là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ giải quyết yêu cầu này.

[2] Về nội dung khởi kiện:

Căn cứ vào Hợp đồng kinh tế số 406/HĐKT-2011 ngày 16/8/2011 được ký kết giữa Công ty cổ phần X và Công ty cổ phần X2 thì Công ty cổ phần X2 đồng ý mua đá cấp phối của Công ty cổ phần X để thi công công trình tại Hồ P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận với giá trị hợp đồng là 1.514.000.000đ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X đã tiến hành cung cấp đá cấp phối cho Công ty X2 đúng như thỏa thuận đã cam kết. Đến hết tháng 4/2012 thì việc cung cấp đá cấp phối cho Công ty X2 hoàn thành. Giữa hai Công ty đã có bảng đối chiếu công nợ theo đó Công ty X2 còn nợ tiền mua đá của Công ty X tính đến hết ngày 08/4/2012 là 372.937.000đ. Đồng thời Công ty X2 đã có bản cam kết thanh toán chậm nhất đến ngày 10/5/2012, Công ty X2 sẽ có trách nhiệm thanh toán xong toàn bộ khoản nợ này cho Công ty X. Tuy nhiên Công ty X2 đã không thực hiện theo đúng cam kết, không thanh toán trả tiền cho Công ty X mặc dù Công ty X đã gửi rất nhiều thông báo cho Công ty X2 yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Xét việc thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa hai Công ty là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên thấy cần chấp nhận yêu cầu của Công ty X buộc Công ty X2 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ là 372.937.000đ cho Công ty X.

[3]. Về án phí:

Công ty cổ phần X2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật. Công ty cổ phần X được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 428,431,432,433, 434, 438 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần X đối với Công ty cổ phần X2.

    Buộc Công ty cổ phần X2 phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần X số tiền 372.937.000đ (Ba trăm bẩy hai triệu chín trăm ba bẩy ngàn đồng).

  2. Đình chỉ yêu cầu của Công ty cổ phần X đề nghị Công ty cổ phần X2 phải trả số tiền 43.300.000đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 11/5/2012 đến ngày 31/8/2016 là 360.300.000đ (Ba trăm sáu mươi triệu ba trăm ngàn đồng) .
  3. Về án phí: Công ty cổ phần X2 phải nộp 18.646.850đ (Mười tám triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn tám trăm năm mươi đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm cho Nhà nước.

    Công ty cổ phần X được hoàn trả số tiền 17.530.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận theo BL số 0011353 ngày 19/10/2016.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo quy định của Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hánh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm nguyên đơn được quyền kháng cáo. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH. Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H.Mê Linh.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/KDTM-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 14/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Ninh Thuận ký hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty Hà Nội đổ đá cấp phối. Sau khi nhận hàng Công ty Hà Nội không thanh toán tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger