Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÔN ĐẢO

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 12-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Túy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Đoàn Thị Diệu Hiền.
  • - Bà Trần Thị Hoài Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Côn Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Dũng và bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Nhà V, huyện C; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Công Duy K, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 8 P, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Đi biển; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và Nguyễn Giao P; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 17/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 26/4/2024 cho đến ngày xét xử “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lâm Văn S, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.
  2. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng mặt”.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Văn S và Nguyễn Công Duy K (thuyền viên trên tàu cá BV95257TS đang neo đậu tại cảng T) là bạn bè quen biết với nhau. Do trước đó cả hai có thời gian đi làm chung tại tàu đánh cá nên K biết S sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17/04/2024, K sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Công Duy K” gọi vào tài khoản Zalo của Sang tên “Định Mệnh” hỏi “có chơi không còn ít nè, đem tiền qua B lấy chơi”, S hiểu K muốn bán ma túy nên trả lời “để trưa chút rảnh chạy qua”. Sau đó, cả hai điện thoại, nhắn tin qua lại với nhau. K muốn bán ma túy cho S với giá 400.000 đồng nhưng do S nói chỉ còn 300.000 đồng nên K đồng ý và đề nghị thanh toán bằng cách quy đổi ra card điện thoại mạng viễn thông V. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, S đi xe ôm qua đến cảng T rồi gọi điện cho K nói không mua được Card điện thoại, sẽ đưa tiền mặt 400.000 đồng cho K. K nói S xuống tàu cá để lấy ma tuý, nhưng S không xuống nên K nói S chờ ở cảng T, sẽ có người giao cho S. Khoảng 13 giờ 45 phút, Phạm Văn H - là chủ tàu cá BV95257TS, thuê đò mang mực lên cảng T để bán thì K đưa cho H 01 vật kích thước dài khoảng 03cm, lớp bên ngoài cuốn kín bằng cao su non màu trắng, bên trong có gói giấy bạc, trong gói giấy bạc có 01 (một) đoạn ống nhựa, màu trắng hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh trong suốt, nhờ H giao cho S (K không nói cho H biết là nhờ giao ma túy). Khi lên đến cảng T, H đưa cho S gói hàng K gửi, S đưa cho H số tiền 450.000 đồng (trong đó 400.000 đồng mua ma túy trả cho K; 50.000 đồng cho riêng H tiền đi đò). Sau khi nhận ma túy, S đi bộ tại cảng T thì bị Lực lượng tuần tra của Công an huyện C phát hiện, đưa S và H về làm việc, lập biên bản và thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, bên trong có chứa chất kết tinh trong suốt - ký hiệu mẫu A (thu giữ trong túi quần của S - theo lời khai của S là ma túy đá).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số sê ri: PZKR8DORAYRCBQEM, gắn sim số: 0345.455.533 (Thu giữ của S).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số I: 354132411413001 (Thu giữ của Phạm Văn H).
  • Số tiền 450.000 đồng (BLĐT: 45, 95).

Trên cơ sở lời khai của Lâm Văn S và Phạm Văn H, ngày 17/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Công Duy K, thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A96, màu đen, số sê ri bb48b4d3, gắn sim số 0777.851.839 (BLĐT: 20).

Tại Bản kết luận giám định số 257/KL-KTHS-MT ngày 23/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu A gửi giám định có khối lượng 0,0394 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (BLĐT: 15).

Ngoài ra, Nguyễn Công Duy K còn khai nhận 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Lâm Văn S, cụ thể:

  • Lần 1: Vào khoảng 09 giờ ngày 19/12/2023, K đang ở trên tàu cá neo đậu tại B, sử dụng Zalo liên lạc với S hỏi S có mua ma túy không. S đồng ý mua ma túy với giá 500.000 đồng và hẹn nhau giao ma túy tại cảng T thuộc Khu dân cư S, huyện C. Khoảng 21 giờ cùng ngày, S đến cảng T gặp K, S đưa cho K 500.000 đồng, K đưa cho S 01 (một) gói ma túy được gói trong túi ny long trong suốt, hàn kín. Hiện số ma túy S đã sử dụng hết.
  • Lần 2: Vào khoảng 10 giờ ngày 19/3/2024, cũng thông qua mạng xã hội Z, K thỏa thuận bán cho S 01 (một) gói ma túy với giá 500.000 đồng và hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực gần xưởng cưa trên đường H thuộc Khu dân cư S, huyện C. Đến 11 giờ cùng ngày, K mang theo ma túy, đi xe ôm (không xác định được nhân thân lai lịch) đến gần xưởng cưa trên đường H giao cho S 01 (một) gói ma túy chứa trong túi nylong trong suốt, hàn kín; S đưa cho K 500.000 đồng. Số ma túy S đã sử dụng hết. (BLĐT: 56-71).

Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Công Duy K khai nhận toàn bộ nguồn gốc ma túy 03 lần K bán cho S là do một người bạn tên P1 làm nghề đi ghe cào (không rõ nhân thân lai lịch) cho K để sử dụng. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên K liên hệ bán lại cho S. Số tiền thu được từ 02 lần bán ma túy K đã tiêu xài hết.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng

- Đồ vật, tài liệu thu giữ

Cơ quan công an thu giữ của Lâm Văn S 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, bên trong có chứa chất kết tinh trong suốt 01 (được niêm phong trong một phong bì màu trắng), (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số sê ri: PZKR8DORAYRCBQEM, gắn sim số: 0345.455.533; Thu giữ của Phạm Văn H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số I: 354132411413001 và 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng); Thu giữ của Nguyễn Công Duy K 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A96, màu đen, số sê ri bb48b4d3, gắn sim số 0777.851.839 (BLĐT: 13, 96).

- Xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số sê ri: PZKR8DORAYRCBQEM, gắn sim số: 0345.455.533: Quá trình điều tra xác định là tài sản của Lâm Văn S, S sử dụng để liên lạc mua ma túy. Do hành vi của S không cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Lâm Văn S;
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số I: 354132411413001: Là điện thoại cá nhân của Phạm Văn H, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho H.
  • + Đối với số tiền 450.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A96, màu đen, số sê ri bb48b4d3, gắn sim số 0777.851.839; 01 (một) phong bì màu trắng gửi giám định, được niêm phong (hoàn lại sau giám định) kèm theo Kết luận giám định số 257/KL-KTHS-MT ngày 23/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B-VT (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định): Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo đã ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSCĐ ngày 01/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
  • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Công Duy K từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng gửi giám định, được niêm phong (hoàn lại sau giám định) kèm theo Kết luận giám định số 257/KL-KTHS-MT ngày 23/4/2024 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền 450.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A96, màu đen, số sê ri bb48b4d3, gắn sim số 0777.851.839 là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố, không tranh tụng tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 19/12/2023 đến ngày 17/4/2024, trên địa bàn huyện C, Nguyễn Công Duy K đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Lâm Văn S với tổng số tiền 1.400.000 đồng, cụ thể:

Lần 1: Ngày 19/12/2023, tại cảng T thuộc Khu dân cư S, huyện C, Nguyễn Công Duy K bán cho Lâm Văn S 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng.

Lần 2: Ngày 19/3/2024, trên đường H thuộc Khu dân cư S, huyện C, Nguyễn Công Duy K bán cho Lâm Văn S 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng.

Lần 3: Ngày 17/4/2024, tại cảng T thuộc Khu dân cư S, huyện C, Nguyễn Công Duy K bán cho Lâm Văn S 01 gói ma túy đá loại Methamphetamine, khối lượng 0,0394 gam với giá 400.000 đồng.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” điểm b, khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Nguyễn Công Duy K là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức và hiểu biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xâm phạm quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây hậu quả rất nguy hiểm cho xã hội và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của địa phương. Sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài lần phạm tội mua bán trái phép chất ma túy bị bắt thì bị cáo còn tự khai ra 02 lần phạm tội bán trái phép chất ma túy cho cho đối tượng S nên thuộc trường hợp người phạm tội tự thú quy định tại điểm r, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Về nhân thân: Ngày 30/12/2011, bị cáo bị Ủy ban nhân dân thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi điều trị cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng tại Trường G và giải quyết việc làm số 01. Bị cáo đã cấp hành xong vào ngày 08/12/2013.

Như vậy, cần áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Đối với Lâm Văn S đã có hành vi mua 0,0394 gam ma túy Methemphetamine để sử dụng. Do khối lượng ma túy không đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ với mức tiền phạt là 3.500.000 đồng là phù hợp.

- Đối với Phạm Văn H là người được Nguyễn Công Duy K nhờ giao ma túy cho Lâm Văn S. Quá trình điều tra xác định, ông H không biết việc K bán trái phép chất ma túy do khi K nhờ ông H đi giao ma túy đã ngụy trang, quấn kín bằng cao su non nên không có cơ sở để xử lý về tội Mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm là phù hợp.

- Đối với người đàn ông tên P1 đã cho K ma túy; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo truy tìm nhưng hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Vì vậy, tiếp tục xác minh làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số sê ri: PZKR8DORAYRCBQEM, gắn sim số: 0345.455.533: Quá trình điều tra xác định là tài sản của Lâm Văn S sử dụng để liên lạc mua ma túy. Do hành vi của S không cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Lâm Văn S là phù hợp khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số I: 354132411413001: Là điện thoại cá nhân của Phạm Văn H, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho H là phù hợp khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
  • Đối với số tiền 450.000 đồng bị thu giữ, trong đó 400.000đồng là tiền do bị cáo bán ma túy còn 50.000.000đồng là tiền của đối tượng S trả tiền mua ma túy còn dư nhưng từ chối nhận lại; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A96, màu đen, số sê ri bb48b4d3, gắn sim số 0777.851.839 là điện thoại bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
  • Đối với 01 (một) phong bì màu trắng gửi giám định, được niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 257/KL-KTHS-MT ngày 23/4/2024 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0003299 ngày 20/8/2024).

[6] Về án phí: Nguyễn Công Duy K phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Duy K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Công Duy K 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 17/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng gửi giám định, được niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 257/KL-KTHS-MT ngày 23/4/2024 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 450.000đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A96, màu đen, số sê ri bb48b4d3, gắn sim số 0777.851.839.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0003299 ngày 20/8/2024).

3. Về án phí: Nguyễn Công Duy K phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/9/2024). Bị cáo có quyền kháng cáo; đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 CA tỉnh BR-VT;
  • - PC 10 CA tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Côn Đảo;
  • - Công an huyện Côn Đảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Côn Đảo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Túy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Duy Kh phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger