|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên: Bà Trần Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Huyền T, sinh năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm E, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: TDP L, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1992; (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mai Huyền T trình bày:
Tôi và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, các bên được tự do tìm hiểu nhau, không bị lừa dối ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 14/3/2018. Thời gian đầu chúng tôi chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2023 trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L không quan tâm vợ con, thường xuyên chơi bời và có sử dụng ma túy đá gây ảo giác, nghi ngờ tôi có quan hệ bất chính với nhiều người. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng, tôi đã nhiều lần bị anh L đánh, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ tháng 11/2023 đến nay, chúng tôi đã sống ly thân. Trong thời gian đó, chúng tôi cũng đã nhiều lần nói chuyện nhưng không tìm được tiếng nói chung. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- - Về con chung: Tôi và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/7/2018 và cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 06/5/2015. Sau khi anh L được Tòa án thông báo về việc tôi làm đơn ly hôn, anh L đã mang 2 cháu D và K gửi cho chị gái ruột của anh L là Nguyễn Thị Q, không cho tôi được nuôi cháu, còn bản thân anh L thì thường xuyên không về nhà, thi thoảng mới về. Tôi có nguyện vọng khi giải quyết ly hôn được nuôi dưỡng cả 02 (hai) cháu Nguyễn Duy K và cháu Nguyễn Ngọc D đến khi con trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Chúng tôi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ, nơi cư trú của bị đơn và tống đạt các văn bản tố tụng để anh L thực hiện quyền được trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tuy nhiên anh L từ chối tham gia tố tụng, không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Q trình bày:
Chị là chị gái ruột của anh Nguyễn Văn L. Về việc mâu thuẫn giữa chị T và anh L chị không biết. Tuy nhiên, sau khi vợ chồng anh L và chị T ly thân với nhau thì anh L có mang 02 (hai) cháu Nguyễn Duy K và cháu Nguyễn Ngọc D gửi chị nhờ chăm sóc nuôi dưỡng và đưa đón các cháu đi học. Hàng tháng anh L cấp dưỡng khoảng 3.000.000 đồng – 4.000.000 đồng gửi chị để cho 02 (hai) cháu ăn uống và sinh hoạt. Anh L vẫn thường xuyên qua lại đón hai cháu đi chơi vào buổi tối. Nay chị T có đơn yêu cầu ly hôn với anh L, quan điểm của chị nếu vợ chồng chị T, anh L không đoàn tụ được với nhau thì chị đề nghị được nuôi dưỡng 02 (hai) cháu D và K, hàng tháng anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng gửi cho chị như hiện tại.
Tại phiên tòa:
Chị T xác định mâu thuẫn giữa chị với anh Nguyễn Văn L đã ngày càng trầm trọng, chị xác định không còn tình cảm với anh L nên tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Về con chung, chị không đồng ý để chị Q nuôi con chung của chị với anh L. Hiện nay chị cũng đã đón 02 cháu là Nguyễn Duy K và cháu Nguyễn Ngọc D về sống cùng chị. Chị trình bày, chị không muốn phải tách 02 con ra cho mỗi người nuôi một con, bản thân anh L hay sử dụng ma túy đá nên chị cũng không yên tâm giao con cho anh L nuôi dưỡng. Do vậy, chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 (hai) cháu Nguyễn Duy K và cháu Nguyễn Ngọc D đến khi con trưởng thành. Về vấn đề cấp dưỡng, chị và anh L sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã đúng theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã tiếp nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Huyền T, cho chị Mai Huyền T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L; Về con chung, giao cháu Nguyễn Duy K và cháu Nguyễn Ngọc D cho chị M Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở; Về án phí, nguyên đơn phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được chuyển từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp, xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Văn L có địa chỉ tại Tổ dân phố L, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Nguyễn Văn L đều vắng mặt. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Q vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh L và chị Q theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết của vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Huyền T và anh Nguyễn Văn L tự nguyện kết hôn với nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 14/3/2018 nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, HĐXX thấy rằng: Quá trình vợ chồng chị T chung sống với nhau đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do anh L không quan tâm vợ con, nghi ngờ chị T không chung thủy. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Anh L mặc dù không đến Tòa án làm việc, không trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, cũng không bày tỏ quan điểm có nhất trí hay không nhất trí ly hôn. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng tại UBND phường B thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Mai Thị Huyền T1 và anh Nguyễn Văn L kéo dài từ khoảng tháng 10/2023 đến nay, nguyên nhân do anh L có biểu hiện sử dụng chất kích thích, vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, cả anh L và chị T1 đều không quan tâm, chăm sóc đến nhau, không cùng nhau nuôi dạy con cái. Hiện nay, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T1 và anh L là trầm trọng, không thể kéo dài nên vợ chồng đã ly thân với nhau được hơn 6 tháng.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau ....... 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau ......”. Tuy nhiên, chị T1 và anh L đã không còn chung sống cùng nhau nhiều tháng nay. Bản thân chị T1 cũng xác định không còn tình cảm với anh L. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị T1 xác định không thể tiếp tục chung sống cùng anh L được nữa, kiên quyết xin ly hôn với anh L. Điều này cho thấy tình cảm của chị T1 dành cho anh L đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị T1 được ly hôn với anh L.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng chị M Huyền T1 và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/7/2018 và cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 06/5/2015. Theo chị T1 trình bày, sau khi biết việc chị T1 làm đơn ly hôn khởi kiện đến Tòa án, anh L đã mang 2 cháu D và K gửi cho chị gái ruột của anh L là Nguyễn Thị Q, không cho chị được nuôi con, còn bản thân anh L thì thường xuyên vắng mặt không có nhà.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với chị Nguyễn Thị Q, theo đó, chị Q trình bày, sau khi chị T1, anh L ly thân với nhau, anh L có mang con gửi cho chị Q để nhờ chăm sóc. Hàng tháng anh L cấp dưỡng khoảng 3.000.000 đồng - 4.000.000 đồng gửi chị Q để nuôi 02 con ăn uống và sinh hoạt. Nay chị T1 có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh L, chị có ý kiến nếu vợ chồng không đoàn tụ thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Riêng về vấn đề con chung của chị T1 và anh L, chị đề nghị được nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu, hàng tháng anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị như hiện tại.
Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."
HĐXX thấy rằng, trong suốt quá trình kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử ngày hôm nay, anh L đều vắng mặt, không có bản tự khai, cũng không có bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào gửi cho Tòa án đề nghị được nuôi con chung nên không có căn cứ để xác định anh L có nguyện vọng được nuôi con chung hay không. Tòa án cũng đã nhiều lần đến nơi cư trú của anh L để tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng nhưng anh L đều vắng mặt, không có nhà. Mặt khác, sau khi ly thân với chị T1, anh L cũng đã mang 02 con chung là cháu K và cháu D đem gửi chị gái ruột là chị Nguyễn Thị Q nhờ chăm sóc. Điều này thể hiện anh L không có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra, theo biên bản xác minh tại Công an phường B cho biết anh L là người thuộc đối tượng quản lý sử dụng trái phép chất ma túy của Công an phường B. Do vậy, không có căn cứ để HĐXX giao con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.
Đối với chị Mai Huyền T1 có nơi cư trú rõ ràng, có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Về điều kiện kinh tế, chị T1 cho biết chị thu nhập hàng tháng được khoảng từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, nhưng do là lao động tự do nên chị không xuất trình được bảng lương cho Tòa án để chứng minh thu nhập. Tuy nhiên, xác minh tại trường mầm non B (nơi cháu Nguyễn Duy K học tập) và trường tiểu học B (nơi cháu Nguyễn Ngọc D học tập) đều xác định, chị Mai Huyền T1 là người đóng học phí và tham gia các buổi họp phụ huynh cho các con. Ngoài ra, xem xét nguyện vọng của cháu Nguyễn Ngọc D (là con chung trên 7 tuổi) cũng muốn được ở với mẹ. Do vậy, việc giao cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K và cháu D là phù hợp.
Đối với ý kiến của chị Nguyễn Thị Q (là chị ruột của anh L) đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và cháu K, hàng tháng anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, HĐXX thấy rằng, bản thân chị T1 có đủ điều kiện để nuôi con, ý kiến của chị Q là không phù hợp với quy định của pháp luật, không phù hợp với nguyện vọng của cháu D nên không có cơ sở để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, xét thấy, để đảm bảo quyền lợi và điều kiện tốt nhất cho các con chung của chị T1 và anh L, cũng như xem xét nguyện vọng của con chung trên 7 tuổi, cần chấp nhận đề nghị của chị T1, giao cháu cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/7/2018 và cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 06/5/2015 cho chị M Huyền T1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị T1 không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Mai Huyền T1 xác định chị và anh L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Chị Mai Huyền T1 xác định chị và anh L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Huyền T1:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Mai Huyền T1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn L;
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/7/2018 và cháu Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 06/5/2015 cho chị M Huyền Trang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do các bên không có yêu cầu. Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
- - Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết;
- - Về nợ chung: Không xem xét giải quyết;
2. Về chi phí tố tụng: Chị Mai Huyền T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001527 ngày 01/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Dương Minh Quang |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn gia đình
