Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS-PT

Ngày 10-01-2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất, tài sản gắn liền với đất và

tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.

Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ

Ông Nguyễn Văn Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 428/2023/TLPT-DS ngày 01/11/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 437/2023/QĐ-PT, ngày 23 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 542/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 596/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 25/12/2023); có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

2

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1985; địa chỉ: số H, đường X, ấp T, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Nguyễn Thị Diễm T3, sinh năm 1994; địa chỉ: số A, ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  3. Nguyễn Thị S, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị S: Ông Nguyễn Văn T1, Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

  1. Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phương L – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Trần Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Trần Thị H1, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn Q.

Viện kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 25/9/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 21/7/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/11/2020, ngày 20/12/2021, quá trình tham gia tố tụng, đại diện ủy quyền của nguyên đơn (ông Vũ Ngọc Tuấn A) trình bày tranh tụng tại phiên tòa:

Cha, mẹ của ông Nguyễn Thanh P là ông Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1952 (chết ngày 10/11/2014 (theo Trích lục khai tử số 71 ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh) và bà Trần Thị H, sinh năm 1953 (chết ngày 20/5/2019 theo trích lục khai tử ngày 27/5/2019). Giữa ông T4 và bà H có 04 người con chung:

  • - Ông Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1977 (chết ngày 12/6/2017 theo Trích lục khai tử số 129/TLKT ngày 15/6/2017).
  • - Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980.
  • - Bà Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1985.

3

  • - Bà Nguyễn Thị Diễm T3, sinh năm 1994.

Ông Trần Văn Q và bà Trần Thị H có mối quan hệ là chị em ruột bà H (chị thứ 4) và ông Q (em thứ 8).

Nguồn gốc phần đất tranh chấp năm 1973 do cha mẹ của bà Trần Thị H cho nên gia đình bà H sử dụng canh tác từ năm 1973 cho đến ngày 16/12/1997 được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp số 00553 QSDĐ cho hộ bà Trần Thị H. Hiện nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp số 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 cho hộ bà Trần Thị H do bị đơn ông Trần Văn Q đang giữ. Lý do ông Trần Văn Q giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này vì thời điểm năm 2010, bà Trần Thị H đang gặp khó khăn về kinh tế, bên cạnh đó người anh trai tên Nguyễn Hoàng L1 đang bị bệnh nặng nên có hỏi vay ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để thanh toán chi phí điều trị bệnh cho ông Nguyễn Hoàng L1. Ông Q nói với bà H là để đảm bảo số tiền vay này thì bà H phải đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Q cầm giữ làm tin đến khi nào trả nợ xong số tiền 10.000.000 đồng thì ông Q sẽ trả lại, vì tình nghĩa chị em ruột với nhau nên bà H đồng ý nội dung này. Việc bà H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các người con của bà H hoàn toàn không biết nội dung này vì các người con đi làm ăn xa. Việc ông Q tiến hành canh tác, sử dụng phần đất này và trồng 300 cây cao su năm 2010 thì bản thân bà H sống cùng với người tên Nguyễn Thị Hồng T2 tại xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009, còn 02 người con còn lại đi làm ăn xa không có mặt ở ấp C, xã T nên không biết nội dung này.

Sau khi bà H chết năm 2019 thì gia đình tìm kiếm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H thì ông Q có gặp các người con và nói toàn bộ nội dung sự việc trên nên các người con có yêu cầu ông Q trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thanh lý toàn bộ cây cao su trên đất nhưng ông Q không đồng ý, vì vậy dẫn đến phát sinh tranh chấp giữa các bên.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn có cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ biên bản kiểm tra hiện trạng đất ngày 11/12/2012; đơn xin xác nhận tình trạng bất động sản ngày 30/01/2013; Phiếu xác nhận thông tin về thực hiện nộp thuế SDĐNN- Nhà ở; biên bản thanh lý hợp đồng đo đạc ngày 12/12/2012 thì nguyên hoàn toàn không biết nội dung này vì đất cấp cho hộ gia đình gồm các thành viên bà Trần Thị H, ông Nguyễn Hoàng L1, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 nên bà H đơn phương lập giấy tờ trên mà không có ý kiến của các thành viên gia đình là không có giá trị về mặt pháp lý.

Hiện nay số tiền 10.000.000 đồng mà nguyên đơn cho rằng bà H vay của ông Q để chữa bệnh cho ông Nguyễn Hoàng L1 thì năm 2020 sau khi biết thông tin sự việc trên qua lời trình bày của ông Q thì ông P có gặp trả lại số tiền 10.000.000 đồng nhưng ông Q không nhận. Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung là buộc ông Q phải trả lại diện tích đất và tài sản gắn liền với đất qua đo đạc thực tế 4.791,7m² tại Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh

4

Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và đồng ý bồi thường giá trị 300 cây cao su cho ông Q theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản.

Ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không tranh chấp gì khác.

2. Tại đơn phản tố ngày 08/01/2021; quá trình tham gia tố tụng đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày tranh tụng tại phiên tòa:

Giữa ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị S có mối quan hệ là vợ chồng. Có 02 người con chung tên: Trần Thị Như Ý, sinh năm 1985 và Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1991.

Cha, mẹ của ông Trần Văn Q tên Trần Văn H2, sinh năm 1918 (chết năm 2015 theo Giấy chứng tủ số 84, quyển số 2/2015 của Ủy ban nhân dân xã T) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1924 (chết năm 1987). Giữa ông Trần Văn H2 và bà Nguyễn Thị K có 09 người nhưng không nhớ rõ họ tên còn bà Trần Thị H (là người con thứ 4) và ông Trần Văn Q (là người con thứ 8).

Năm 2003, ông Q có nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị H phần đất lúa với giá trị 10.000.000 đồng thể hiện diện tích qua đo đạc thực tế là 4.791,7m² tại Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Trần Thị H thì gia đình ông Trần Văn Q tiến hành trồng lúa đến năm 2010 thì chuyển sang trồng 300 cây cao su. Sau đó, ông Q cùng với bà H làm thủ tục kiểm tra hiện trạng đất ngày 11/12/2012; đơn xin xác nhận tình trạng bất động sản ngày 30/01/2013; phiếu xác nhận thông tin về thực hiện nộp thuế SDĐNN- Nhà ở; biên bản thanh lý hợp đồng đo đạc ngày 12/12/2012, tuy nhiên do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H cấp cho hộ gia đình nên chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng.

Từ thời điểm năm 2012 trên cơ sở hòa giải thành tại Ủy ban nhân dân xã T thì bà H đồng ý nhận thêm số tiền 30.000.000 đồng nên ông Q hoàn tất thủ tục đo đạc. Sau khi làm xong hồ sơ thì đến văn phòng công chứng thì công chứng viên yêu cầu phải có chữ ký của chồng bà H, vì vậy ông Q mới yêu cầu bà H cung cấp thông tin của chồng bà H là ai, còn sống hay chết nhưng sau đó bà H về xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh sống cùng với người con nên ông Q nhiều lần liên lạc thì bà H cứ hứa hẹn không thực hiện. Sau khi bà H chết thì ông Q có yêu cầu nội dung này và các người con của bà H yêu cầu trả thêm số tiền 30.000.000 đồng nhưng sau đó hòa giải ở chính quyền địa phương giải quyết không thành nên phát sinh tranh chấp giữa các bên.

Trước yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu bị đơn trả lại phần đất qua đo đạc thực tế là 4.791,7m² thì bị đơn ông Q không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng thời phía bị đơn yêu cầu các người con của bà Trần Thị H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất đang tranh chấp và công nhận cho bị đơn được quyền quản lý, sử dụng phần đất này theo quy định của pháp luật.

5

Ngoài ra, bị đơn và đại diện ủy quyền của bị đơn không có tranh chấp gì khác.

3. Tại biên biên bản lấy lời khai ngày 18/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3) cùng thống nhất trình bày:

T2 và bà T3 có mối quan hệ là con của ông Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1952 (chết ngày 10/11/2014 (theo Trích lục khai tử số 71 ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh) và bà Trần Thị H, sinh năm 1953 (chết ngày 20/5/2019 theo trích lục khai tử ngày 27/5/2019). Ông T4 và bà H có 04 người con, gồm: ông Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1977 (chết ngày 12/6/2017 theo Trích lục khai tử số 129/TLKT ngày 15/6/2017); ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980; bà Nguyễn Thị Diễm T3, sinh năm 1994 và Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1985.

Nguồn gốc phần đất tranh chấp do cha mẹ của bà Trần Thị H cho từ năm 1973 nên gia đình bà H sử dụng canh tác từ năm 1973 cho đến ngày 16/12/1997 được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ cho hộ bà Trần Thị H. Lý do ông Trần Văn Q lại giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vào năm 2010, bà Trần Thị H đang gặp khó khăn về kinh tế, bên cạnh đó người anh trai tên Nguyễn Hoàng L1 đang bị bệnh nặng nên có hỏi vay ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để thanh toán chi phí điều trị bệnh cho ông Nguyễn Hoàng L1. Ông Q nói với bà H là để đảm bảo số tiền vay này thì bà H phải đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Q cầm giữ làm tin đến khi nào trả nợ xong số tiền 10.000.000 đồng thì ông Q sẽ trả lại.

Việc bà H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q thì các người con của bà H không ai biết nội dung này. Việc ông Q tiến hành canh tác trồng cây trên phần đất tranh chấp các người con không ai biết sự việc này do những người con còn lại đi làm ăn xa. Khoảng năm 2012, bà H có mang 10.000.000 đồng đến trả cho ông Q và yêu cầu ông Q trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ cho bà H nhưng ông Q không đồng ý với lý do số tiền 10.000.000 đồng cho vay đã lâu giờ trả không có giá trị nên bà H chưa trả được cho ông Q. Bà T2, bà T3 có nghe bà H nói vào năm 2012, bà H có gửi đơn ra UBND xã T để yêu cầu ông Q trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông Q không đồng ý và có ý kiến sẽ đưa thêm số tiền 30.000.000 đồng để bà H sang tên cho ông Q nhưng ông Q chỉ nói miệng chứ không giao tiền cho đến khi bà H mất vào năm 2019, ông Q có đến gọi ba anh em tên ông P, bà T2, bà T3 đến nhà ông Q và yêu cầu chuyển nhượng cho ông Q thì ông Q sẽ cho ba anh em 30.000.000 đồng nhưng ông P, bà T2, bà T3 yêu cầu đưa 60.000.000 đồng mới chuyển nhượng. Ông Q không đồng ý và bảo ông P, bà T2, bà T3 đi khởi kiện.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông P về việc yêu cầu ông Q phải trả lại diện tích đất và tài sản gắn liền với đất qua đo đạc thực tế 4.791,7m² tại Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi

6

nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và đồng ý bồi thường giá trị 300 cây cao su theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản thì bà T2 và bà T3 thống nhất với ý kiến của ông P và không tranh chấp gì với ông P đối với phần đất đang tranh chấp; bà T2, bà T3 đồng ý để ông P đứng ra một mình khởi kiện ông Q, mọi ý kiến của ông P cũng là ý kiến của bà T2, bà T3. Đối với yêu cầu phản tố ngày 08/01/2021 của ông Q thì bà T2 và bà T3 không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông Q.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị S) trình bày: Thống nhất với ý kiến của bị đơn ông Trần Văn Q.

5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương) trình bày:

Tại Công văn số 2669/UBND-BTCD ngày 07/12/2021 có ý kiến:

1. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 do UBND huyện B cấp cho bà Trần Thị H được cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản, Điều 2, Điều 36, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993 và Quyết định số 201/QĐ-ĐKT ngày 14/7/1989 của T7 (nay là Tổng cục Địa chính) về việc ban hành quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hình thể thửa đất được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập bằng không ảnh, không đo đạc thực tế.

Hồ sơ gốc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lưu tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D không có hộ khẩu, do đó không thể cung cấp thông tin các thành viên có trong hộ.

2. Diện tích 836m² thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số 40 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 chênh lệch 28,8m² so với diện tích 864,8m² theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Nguyên nhân: Do trước đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 được cấp theo bản đồ địa chính lập năm 1995, bản đồ được lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.

3. Diện tích 1.519m² thuộc thửa đất số 746, tờ bản đồ số 36 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 chênh lệch 125,6m² so với diện tích 1.393,4m² theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Nguyên nhân: Do trước đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 được cấp theo bản đồ địa chính lập năm 1995, bản đồ được lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.

7

4. Diện tích 893m² thuộc thửa đất số 748, tờ bản đồ số 36 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 chênh lệch 23,1m² so với diện tích 869,9m² theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Nguyên nhân: Do trước đây giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 được cấp theo bản đồ địa chính lập năm 1995, bản đồ được lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.

5. Diện tích 602m² thuộc thửa đất số 750, tờ bản đồ số 36 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 chênh lệch 32m² so với diện tích 588m² theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Nguyên nhân: Do trước đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 được cấp theo bản đồ địa chính lập năm 1995, bản đồ được lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.

6. Diện tích 215m² thuộc thửa đất số 752, tờ bản đồ số 36 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 chênh lệch 6,8m² so với diện tích 208,2m² theo Mảnh trích lục đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 542 – 2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Nguyên nhân: Do trước đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00553 QSDĐ ngày 16/12/1997 được cấp theo bản đồ địa chính lập năm 1995, Bản đồ được lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.

7. Phần đất tranh chấp có diện tích 619,6m² thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nào. Phần diện tích trên có được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng liên hệ UBND xã T để được xác minh làm rõ.

8. Phần đất tranh chấp có diện tích 247,8m² thuộc thửa đất số 753, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nào. Phần diện tích trên có được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng liên hệ Ủy ban nhân dân xã T để được xác minh làm rõ.

6. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 18/8/2023, người làm chứng (bà Trần Thị H, bà Trần Thị H1) trình bày:

8

Trần Thị H: Bà H và ông Trần Văn T5 có mối quan hệ là vợ chồng. Ông Trần Văn T5 (thứ 9) là em ruột của bà Trần Thị H (thứ 4) và ông Trần Văn Q (thứ 8). Vì vậy, ông Nguyễn Thanh P gọi bà H là mợ dâu thứ 9. Còn bà Trần Thị H1 là em ruột của bà Trần Thị H (thứ 4) và ông Trần Văn Q (thứ 8). Vì vậy, ông Nguyễn Thanh P gọi bà H1 là dì út (thứ 10). Các đương sự sống tình cảm với nhau và không có xảy ra mâu thuẫn gì đối với ông Nguyễn Thanh P và ông Trần Văn Q. Hộ gia đình bà Trần Thị H gồm những thành viên tên: Bà Trần Thị H, ông Nguyễn Hoàng L1, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3.

Khi bà Trần Thị H còn sống thì sống cùng với người con trai tên Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (chết ngày 12/6/2017 theo trích lục khai tử số 129/TLKT ngày 15/6/2017). Nhà của bà Trần Thị H cách nhà của bà Trần Thị H (mợ dâu thứ 9) khoảng cách 50m; cách nhà của bà Trần Thị H1 khoảng 1km. Thỉnh thoảng bà H, bà H1 thấy bà Trần Thị H về sinh sống với người con gái tên Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1985 tại huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Khi ông Nguyễn Hoàng L1 còn sống và đến khi chết thì không có lập gia đình, vợ con gì.

Nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa các đương sự do cha tên Trần Văn H2, sinh năm 1918 (chết năm 2015 theo Giấy chứng tử số 84, quyển số 2/2015 của Ủy ban nhân dân xã T) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1924 (chết năm 1987) cho bà Trần Thị H sử dụng canh tác từ năm 1973 cho đến ngày 16/12/1997 được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ cho hộ bà Trần Thị H. Phần đất mà cha, mẹ cho bà Trần Thị H là phần đất tranh chấp thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 542-2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Thời điểm năm 1973 cho đến ngày 16/12/1997 thì hiện trạng đất của bà Trần Thị H là đất trồng lúa. Thời điểm năm 2003 thì bà Trần Thị H và bà Trần Thị H1 hoàn toàn không có thấy gia đình ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị S trồng lúa gì trên phần đất này mà bà Trần Thị H là người trực tiếp canh tác trồng lúa không phải là ông Trần Văn Q. Việc bà Trần Thị H vay của bị đơn ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng hay ông Trần Văn Q nhận chuyển nhượng đất của bà Trần Thị H thì bà Trần Thị H và bà Trần Thị H1 hoàn toàn không biết. Thời điểm năm 2010 thì bà Trần Thị H có đến bệnh việc đa khoa tỉnh Bình Dương (Bệnh viện 512) để thăm hỏi sức khỏe của ông Nguyễn Hoàng L1 đang điều trị bệnh đau ruột khi đó đã mổ phẫu thuật. Bà Trần Thị H thăm nuôi bệnh 02 lần và ở lại bệnh viện 02 ngày để phụ chăm sóc thay cho bà Trần Thị H (mẹ của ông Nguyễn Hoàng L1). Khi bà Trần Thị H còn sống thì các đương sự không có nghe nội dung việc bà Trần Thị H yêu cầu ông Trần Văn Q trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp số 00553 QSDĐ cho hộ bà Trần Thị H.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

9

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P đối với bị đơn ông Trần Văn Q về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

1.1. Buộc ông Trần Văn Q phải trả lại cho ông Nguyễn Thanh P quản lý, sử dụng phần đất diện tích 3.924.3m² thuộc thửa đất 6, 746, 748, 750, 752 tờ bản đồ số 36, 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khu đất có tứ cận:

  • - Phía Đông giáp với thửa đất số 753, 754
  • - Phía Tây giáp với thửa đất số 851
  • - Phía Nam giáp tờ bản đồ số 40
  • - Phía Bắc giáp với thửa đất số 811, 753.

(Kèm theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 542-2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D).

1.2. Tạm giao cho ông Nguyễn Thanh P quản lý, sử dụng diện tích 619,6m² thuộc thửa đất số 745 và diện tích 247,8m² thuộc một phần thửa đất số 753, tờ bản đồ số 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khu đất có tứ cận:

  • - Phía Đông giáp với thửa đất số 746, 754
  • - Phía Tây giáp với thửa đất số 851, 752
  • - Phía Nam giáp thửa đất số 06, tờ bản đồ số 40
  • - Phía Bắc giáp với thửa đất số 811, 753.

Ông Nguyễn Thanh P có trách nhiệm liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

1.3. Ông Nguyễn Thanh P được quyền quản lý, sử dụng tài sản gắn liền với đất là 300 cây cao su trồng năm 2010 trên phần đất diện tích 4.791,7m² thuộc thửa đất 6, 745, 746, 748, 750, 752, 753 tờ bản đồ số 36, 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

1.4. Ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) mà bà Trần Thị H đã nhận của ông Trần Văn Q.

1.5. Ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn Q giá trị 300 cây cao su với tổng số tiền 143.700.000 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Trần Văn Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Thanh P không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng ông Nguyễn Thanh P còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

10

2. Không chấp nhận đơn phản tố của bị đơn ông Trần Văn Q đối với ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

3. Đình chỉ xét xử đối với đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/12/2021của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P đối với bị đơn ông Trần Văn Q.

4. Ông Trần Văn Q có trách nhiệm giao trả lại cho ông Nguyễn Thanh P 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/12/1997 cho hộ bà Trần Thị H.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 18/9/2023 bị đơn ông Trần Văn Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ngày 25/9/2023, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 25/9/2023 với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P do bà Đặng Thị T đại diện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Trần Văn Q vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị S là Luật sư Nguyễn Văn T1 phát biểu quan điểm:

1. Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P trong vụ án đang khởi kiện đòi ông Trần Văn Q trả lại toàn bộ diện tích đất 4.791,7m² bao gồm phần diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số 00553/QSDD cấp ngày 16 tháng 12 năm 1997 cho hộ bà Trần Thị H và 02 thửa 753 (247,8m²) và thửa 745 (619,6m²) hiện chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dất. Trong hồ sơ vụ án không có có sở để xác định ông Nguyễn Thanh P được sở hữu toàn bộ quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất này, hoặc được các đồng sở hữu trong hộ năm 1997 ủy quyền tham gia tố tụng theo đúng quy định của pháp luật - các anh chị em của ông P đồng ý cho ông P tiếp tục kiện tại Tòa án cấp sơ thẩm là chưa có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, ông P đã khởi kiện vượt quá thẩm quyền trong vụ án này. Bao gồm thay thế tất cả các đồng sở hữu khác, thay thế luôn những người thừa kế của bà Trần Thị H.

2. Hiện tại, bà Trần Thị H là đồng sở hữu trong quyền sử dung đất hộ gia đình đã chết, tại Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác dịnh hàng thừa kế của bà H gồm những ai? Chưa được cơ quan quản lý Nhà nước xác định là bà H có con ngoài

11

giá thú trong vụ án này hay không? Bà H có để lại thừa kế theo di chúc tài sản là quyền sử dụng đất của hộ này cho ai không?.. Chưa xác định được mà Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận cho ông P đại diện nhận toàn bộ tài sản là chưa phù hợp với quy định của pháp luật quy định rất rõ trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Xác định là tài sản của hộ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ là hộ gia đình bà H năm 1997 có bao nhiêu thành viên từ cơ quan chúc năng. Mặt khác, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đại huyện D xác định trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận đất đại trà không có hồ sơ xác định nhân khẩu (hộ khẩu). Đồng thời, chấp nhận sổ hộ khẩu của ông P cung cấp, mà sổ hộ khẩu này được cấp sau thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 là chua phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chi tiết phần này.

4. Đối với diện tích chưa được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, theo ý kiến của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D thì chưa được cấp giấy và chưa có cơ sở để xác định đây là tài sản hợp pháp của ai, tài sản này là của hộ gia đình bà H hay tài sản riêng của bà H...02 thửa 753 (247,8m²) và thửa 745 (619,6m²) hiện chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dung dất. Tòa cấp sơ thẩm khẳng định là tài sản hộ gia đình bà H và cho phép ông P quản lý, sử dụng và đề nghị cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận cho ông P là trái quy định của pháp Luật Đất đai.

5. Quyền sử dụng đất xác định là thuộc hộ gia đình bà H, có nghĩa là tất cả thành viên hộ bà H thời điểm năm 1997 là nguời sử dụng, có thể là bà H, con bà H và những nguời khác (nếu có) đều có quyền ngang nhau về quyền sử dụng với tỷ lệ bình quân trên đầu người. Tuy nhiên, Tòa chấp nhận giao cho ông P mà chưa được sự đồng ý bằng văn bản của các đồng sử dụng và các đồng thừa kế của bà H là trái pháp luật.

6. Trong hồ sơ vụ án chưa xác định quyền lợi, công sức suốt quá trình giữ gìn, làm tăng giá trị từ năm 2003 đến nay của ông Trần Văn O và bà Nguvễn Thị S1 là chưa phù hợp với quy dinh của pháp luật.

7. Từ khi Tòa án định giá tài sản ngày 12 tháng 5 năm 2023 đến nay đã 08 tháng. Thời điểm tháng 5 năm 2023 đến nay tháng 01 năm 2024 giá trị quyền sử dụng đất đã thay đổi và không còn đúng thực tế. Cần phải định giá lại cho sát giá thị trường.

8. Đối với một phần quyền sử dụng dất của phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Trần Văn Q theo quy định của Nghị Quyết số 02/2004/HDTP ngày 18 tháng 10 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và trả hồ sơ thụ lý, giải quyết lại theo trình tự pháp luật quy định.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

12

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm như sau :

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất diện tích 3.229m², đơn khởi kiện bổ sung nguyên đơn yêu cầu trả diện tích đất 4.791m² nhưng không yêu cầu trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn trả 3.229m² và đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung và tạm giao 02 thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giải quyết vượt quá thẩm quyền do Toà án không có thẩm quyền giao đất.

Bị đơn có đơn phản tố yêu cầu công nhận diện tích đất 4.791m². Toà án không hướng dẫn bị đơn yêu cầu trả số tiền 10.000.000 đồng và tính công sức quản lý đất nếu yêu cầu phản tố không được chấp nhận, đương sự không có yêu cầu nhưng Toà án buộc nguyên đơn trả tiền cho bị đơn và không tính tiền lãi từ thời điểm nhận tiền là năm 2010 đến ngày xét xử sơ thẩm là thiếu sót.

Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét đến các tài liệu chứng cứ như biên bản kiểm tra hiện trạng đất ngày 11/12/2012; đơn xin xác nhận tình trạng bất động sản ngày 30/01/2013; phiếu xác nhận thông tin về thực hiện nộp thuế SDĐNN- Nhà ở; biên bản thanh lý hợp đồng đo đạc ngày 12/12/2012 để xem xét, hoà giải liên quan đến diện tích đất 805m².

Đối với kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là có căn cứ chấp nhận một phần.

Từ những phân tích trên, nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ nên cần huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có căn cứ chấp nhận một phần.

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Trần Văn Q, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, hủy Bản án sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến vị Luật sư và của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/12/2021, xét đây là ý chí tự nguyện của đương sự nên được Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu này là phù hợp với quy tại khoản 2

13

Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Phần quyết định này không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P khởi kiện bị đơn ông Trần Văn Q yêu cầu trả lại phần đất có diện tích 4.791,7m² thuộc các thửa đất số 6, 745, 746, 748, 750, 752, 753 tờ bản đồ số 36, 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ngày 08/01/2021, bị đơn ông Trần Văn Q làm đơn phản tố yêu cầu ông Nguyễn Thanh P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 (là những người thừa kế của bà Trần Thị H) tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên.

[3] Căn cứ Tờ tường trình quan hệ nhân thân được Ủy ban nhân dân xã T, huyện D chứng thực ngày 04/01/2014 thể hiện: Cha của bà Trần Thị H là ông Trần Văn H2 chết năm 2015 (theo Giấy chứng tử số 84, quyển số 2/2015 của Ủy ban nhân dân xã T cấp) và mẹ bà H là bà Nguyễn Thị K chết năm 1987, chồng của bà H là ông Nguyễn Hoàng T4 chết ngày 10/11/2014 (theo Trích lục khai tử số 71 ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh) và bà Trần Thị H chết ngày 20/5/2019 (theo Trích lục khai tử ngày 27/5/2019). Bà H và ông T4 có 04 người con chung gồm: Ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Diễm T3, bà Nguyễn Thị Hồng T2 và ông Nguyễn Hoàng L1 chết ngày 12/6/2017 (theo Trích lục khai tử số 129/TLKT ngày 15/6/2017). Như vậy, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của bà H gồm: Ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Diễm T3, bà Nguyễn Thị Hồng T2 theo quy định tại khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự. Toà án cấp sơ thẩm đã đưa đầy đủ những người thừa kế của bà H vào tham gia tố tụng với tư cách là đương sự trong vụ án gồm: Ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Diễm T3, bà Nguyễn Thị Hồng T2. Do đó, Luật sư của bị đơn cho rằng bà Trần Thị H là đồng sở hữu trong quyền sử dung đất hộ gia đình đã chết, tại Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định hàng thừa kế của bà H gồm những ai? Chưa được Cơ quan quản lý Nhà nước xác định là bà H có con ngoài giá thú trong vụ án này hay không? Bà H có để lại thừa kế theo di chúc tài sản là quyền sử dụng đất của hộ này cho ai không là chưa phù hợp.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Nguồn gốc phần đất tranh chấp năm 1973 do cha mẹ của bà Trần Thị H là ông Trần Văn H2, sinh năm 1918 (chết năm 2015 theo Giấy chứng tử số 84, quyển số 2/2015 của Ủy ban nhân dân xã T) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1924 (chết năm 1987) cho bà Trần Thị H canh tác, sử dụng. Đến ngày 16/12/1997, Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ cho hộ bà Trần Thị H. Lời trình bày của nguyên đơn cho rằng lý do ông Trần Văn Q giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là thời điểm năm 2010 bà Trần Thị H đang gặp khó khăn về kinh tế, bên cạnh đó người anh trai tên Nguyễn Hoàng L1 đang bị bệnh nặng nên có hỏi vay ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để thanh toán chi phí điều trị bệnh cho ông Nguyễn Hoàng L1. Ông Trần Văn Q nói

14

với bà Trần Thị H là để đảm bảo số tiền vay này thì bà Trần Thị H phải đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Q giữ để làm tin, đến khi nào trả nợ xong số tiền 10.000.000 đồng thì ông Q sẽ trả lại. Vì tình nghĩa chị em ruột với nhau nên bà Trần Thị H đồng ý yêu cầu này của ông Q. Việc bà H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các người con của bà H hoàn toàn không biết vì các người con đi làm ăn xa. Bị đơn ông Trần Văn Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà cho rằng năm 2003, ông Trần Văn Q có nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị H phần đất lúa với giá 10.000.000 đồng, sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Trần Thị H thì gia đình ông Trần Văn Q tiến hành trồng lúa đến năm 2010 thì chuyển sang trồng 300 cây cao su. Sau khi bà Trần Thị H chết, gia đình nguyên đơn tìm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Trần Thị H thì ông Trần Văn Q có gặp các người con của bà Trần Thị H và nói toàn bộ nội dung sự việc trên nên các người con có yêu cầu ông Trần Văn Q trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thanh lý toàn bộ cây cao su trên đất nhưng ông Trần Văn Q không đồng ý, vì vậy dẫn đến nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa các bên.

[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án huyện D đã ra Thông báo số 58/2021/TB-TA ngày 07/4/2021 và Thông báo số 75/2021/TB-TA ngày 13/12/2021 về việc yêu cầu các đương sự giao nộp chứng cứ thể hiện bà Trần Thị H có vay của bị đơn ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng vào năm 2010 cũng như việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2003 giữa bà Trần Thị H và ông Trần Văn Q. Tuy nhiên, giữa nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc vay tiền cũng như văn bản chứng minh việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên. Các bên đương sự chỉ thừa nhận nội dung sự việc bà Trần Thị H có nhận của ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng là có thật, nên đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.3] Mặc dù không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên nhưng tại phiên tòa phía đại diện ủy quyền của bị đơn cho rằng người làm chứng ông Nguyễn Văn N1 là người chứng kiến, biết nội dung việc ông Trần Văn Q sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 2003. Xét thấy, căn cứ ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn N1 tại Tòa án chỉ xác định nội dung: “Năm 2003, tôi có mua 01 thửa đất tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương với diện tích 5.106m² với số tiền là 11.000.000 đồng là đất giáp ranh đất của bà Trần Thị H... và hiện nay tôi đã cho con tôi Nguyễn Thị P1 đang canh tác trồng cây cao su”. Như vậy, ông Nguyễn Văn N1 hoàn toàn không có ý kiến gì về việc ông Trần Văn Q sử dụng, canh tác phần đất tranh chấp từ năm 2003. Do đó, ý kiến trình bày của đại diện ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đình P2 là chưa phù hợp với thực tế về thời gian sử dụng đất. Do đó, có căn cứ xác định bị đơn ông Trần Văn Q chỉ quản lý, sử dụng phần đất này từ năm 2010 không phải từ năm 2003, việc ông Trần Văn Q quản lý, sử dụng phần đất này mà không có sự đồng ý thống nhất của các thành viên trong hộ gia đình bà Trần Thị H là chưa phù hợp và không được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất hợp pháp nên cần phải trả lại cho

15

những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của Trần Thị H. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 18/8/2023, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 có ý kiến không tranh chấp gì đối với ông Nguyễn Thanh P đối với phần đất đang tranh chấp, đồng ý để ông Nguyễn Thanh P đứng ra một mình khởi kiện ông Trần Văn Q. Đồng thời, tại cấp phúc thẩm bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 nộp cho Tòa án văn bản đồng ý giao tài sản thừa kế ngày 04/01/2024 cùng thống nhất trình bày nội dung như sau: “Nay tôi làm văn bản này gửi cho cấp phúc thẩm theo Thông báo thụ lý vụ án số 428/TB-TLVA ngày 01/11/2023 tôi vẫn đồng ý giao toàn bộ tài sản thừa kế của tôi cho ông Nguyễn Thanh P. Tôi cam kết không tranh chấp về phần thừa kế nêu trên”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn giao trả lại diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị H cho ông Nguyễn Thanh P quản lý, sử dụng và ông Nguyễn Thanh P phải thanh toán lại cho ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng mà bà Trần Thị H đã nhận của ông Trần Văn Q trước đó là phù hợp. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên buộc nguyên đơn trả cho bị đơn số tiền lãi tính trên số tiền bà H đã vay của ông Q là có thiếu sót nên cần sửa một phần án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn tự nguyện trả cho bị đơn tiền lãi tính từ ngày 01/01/20210 đến ngày xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật D cự năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tiền lãi được tính cụ thể như sau: 10.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 212 tháng 14 ngày = 17.634.733 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn ông Q là 27.634.733 đồng.

[3.4] Đối với diện tích đất 619,6m² thuộc thửa đất số 745 và diện tích 247,8m² thuộc một phần thửa đất số 753, tờ bản đồ số 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương nhưng trên thực tế từ năm 1973 cho đến năm 2009 thì Trần Thị H vẫn đang canh tác sử dụng. Tại Công văn số 2669/UBND-BTCD ngày 07/12/2021 của Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương trả lời do khi cấp sổ cho bà H là đo đạc đại trà nên diện tích có sự chênh lệch và hiện tại thửa đất số 745, 753 chưa được cấp giấy chứng nhận cho cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào. Đồng thời, tại Công văn số 160/TNMT-TC ngày 20/4/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D xác định 02 thửa đất này được quy hoạch đất trồng cây lâu năm (CLN) và không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm giao cho ông Nguyễn Thanh P tiếp tục quản lý, sử dụng và liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký cấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai là phù hợp. Quan điểm đại diện V cho rằng Toà án cấp sơ thẩm giải quyết tạm giao diện tích đất này cho ông P là vược quá thẩm quyền là chưa phù hợp.

[3.5] Ngoài ra, Luật sư bị đơn cho rằng trong hồ sơ vụ án không có có sở để xác định ông Nguyễn Thanh P được sở hữu toàn bộ quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất này, hoặc được các đồng sở hữu trong hộ năm 1997 ủy quyền tham gia tố tụng theo dúng quy định của pháp luật, các anh chị em của ông P đồng ý cho ông P tiếp tục kiện tại Tòa án cấp sơ thẩm là chưa có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật và cho rằng ông P đã khởi kiện vượt quá

16

thẩm quyền trong vụ án này bao gồm thay thế tất cả các đồng sở hữu khác, thay thế luôn những người thừa kế của bà Trần Thị H là không phù hợp với nhận định tại mục [3.2] trên nên không có căn cứ chấp nhận.

[4] Xét, yêu cầu phản tố của bị đơn buộc những người thừa kế của bà Trần Thị H là ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 4.791,7m². Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có cung cấp chứng cứ Biên bản kiểm tra hiện trạng đất ngày 11/12/2012; Đơn xin xác nhận tình trạng bất động sản ngày 30/01/2013; phiếu xác nhận thông tin về thực hiện nộp thuế SDĐNN- Nhà ở; Biên bản thanh lý hợp đồng đo đạc ngày 12/12/2012. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 02/2004/NG-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” và áp dụng nội dung Án lệ số 16/2017AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng thì Toà án công nhận hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, xem xét nội dung sự việc trong Án lệ số 16/2017AL thể hiện quá trình hai bên chuyển nhượng đất thì các thành viên hộ trong gia đình đều biết và không có ý kiến gì phản đối, đồng thời người nhận chuyển nhượng đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển nhượng, còn nội dung trong vụ án này thì các người con của bà Trần Thị H hoàn toàn không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H với bị đơn ông Trần Văn Q và hiện nay phần đất tranh chấp chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn Q mà vẫn do hộ bà Trần Thị H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc bà Trần Thị H và ông Trần Văn Q có thực hiện thủ tục đo đạc, xác nhận tình trạng bất động sản, xác nhận thông tin về thực hiện nộp thuế nhưng hai bên chưa ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vì chưa có ý kiến các thành viên trong hộ gia đình bà Trần Thị H và các người con của bà Trần Thị H cũng không thống nhất nội dung này vì đất cấp cho hộ gia đình bà H. Tại Giấy xác nhận ngày 03/3/2023 (bút lục 172) Công an huyện D xác định các thành viên hộ bà H gồm: bà Trần Thị H, ông Nguyễn Hoàng L1, ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3. Do vậy, việc bà Trần Thị H đơn phương định đoạt lập các giấy tờ trên mà không có ý kiến của các thành viên hộ gia đình là không có giá trị về mặt pháp lý, không phù hợp với quy định tại Điều 3, 166, 170 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 102, 212 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Luật sư bị đơn cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xác định là tài sản của hộ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ là hộ gia đình bà H năm 1997 có bao nhiêu thành viên từ cơ quan chúc năng là chưa phù hợp. Hơn nữa, ông

17

Nguyễn Thanh P là con chung của bà H với ông Hoàng Văn T6 sinh năm 1980 nên có căn cứ xác định bà H với ông T6 chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987 (ngày luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) nên là hôn nhân thực tế. Ngày 16/12/1997, Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ cho hộ bà Trần Thị H là cấp trong thời kỳ hôn nhân. Ông T6 chết ngày 08/11/2014 (bút lục 19), thời điểm bà H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q (theo như bị đơn xác định là chuyển nhượng vào năm 2003) quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Tự v đang tồn tại nhưng không có sự đồng ý bằng văn bản của ông T6 nên việc giao giấy chứng nhận cũng như việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bằng lời nói) giữa bà H với ông Q là không phù hợp với quy định tại theo quy định tại khoản 29 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2003; các Điều 106, 121, 122, 125, 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và không tính công sức quản lý, gìn giữ đất cho bị đơn là có căn cứ.

[5] Đối với phần tài sản trên đất 300 cây cao su trồng năm 2010 là cây trồng lâu năm có giá trị thu hoạch sản lượng mủ nên không thể buộc ông Trần Văn Q chặt bỏ, di dời ra khỏi phần đất tranh chấp mà cần tiếp tục giao lại cho ông Nguyễn Thanh P quản lý, sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh P bồi thường giá trị cây cao su theo Biên bản định giá ngày 17/5/2023 với số tiền là 143.700.000 đồng là phù hợp.

[6] Tại biên bản định giá tài sản tranh chấp ngày 17/5/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện D xác định có giá trị là đất là 250.000 đồng x 4.791,1m² = 1.197.925.000 đồng.

[7] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, bởi lẽ căn cứ vào lời trình bày của người làm chứng bà Trần Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương xác định thời điểm năm 2010 thì bà Trần Thị H có đến bệnh việc đa khoa tỉnh Bình Dương (Bệnh viện 512) để thăm hỏi sức khỏe của ông Nguyễn Hoàng L1 đang điều trị bệnh đau ruột khi đó đã mổ phẫu thuật. Bà Trần Thị H thăm nuôi bệnh 02 lần và ở lại bệnh viện 02 ngày để phụ chăm sóc thay cho bà Trần Thị H (mẹ của ông Nguyễn Hoàng L1). Đồng thời, bà Trần Thị H và bà Trần Thị H1 khẳng định năm 2003 ông Trần Văn Q hoàn toàn không có canh tác, sử dụng phần đất này. Như vậy, đối chiếu với tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp cho Tòa án và lời trình bày của nguyên đơn, người làm chứng có căn cứ xác định bị đơn chỉ quản lý, canh tác phần đất tranh chấp và tiến hành trồng 300 cây cao su vào năm 2010, không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bị đơn canh tác, sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 2003 nên Quyết định kháng nghị đề nghị áp dụng Nghị quyết số 02/2004/NG-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn mà không xem xét đến quyền lợi của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là con của bà Trần Thị H trong vụ án là chưa thỏa đáng.

18

[8] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất diện tích 3.229m², đơn khởi kiện bổ sung nguyên đơn yêu cầu trả diện tích đất 4.791m² nhưng không yêu cầu trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn trả 3.229m². Đồng thời, để giải quyết triệt để vụ án, Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông Trần Văn Q có trách nhiệm giao trả lại cho ông Nguyễn Thanh P 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/12/1997 cho hộ bà Trần Thị H, ông P có trách nhiệm trả lại số tiền bà H đã vay là 10.000.000 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện nguyên đơn tự nguyện trả tiền lãi của số tiền vay này như đã phân tích tại mục [3.3] trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận và sửa một phần án sơ thẩm. Đại diện Viện Kiểm sát cho rằng Toà án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm là không cần thiết.

Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có cơ sở nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn Q.

[9] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị S là không có căn cứ chấp nhận.

[10] Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 25/9/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận một phần.

[11] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Toà án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch tính trên giá trị đất tranh chấp là chưa phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên cần sửa một phần án sơ thẩm về án phí.

[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 106, 121, 122, 125, 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 14, 189, 190, 191 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 5, 98, 99, 166, 167, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013;

19

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn Q.

2. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 25/9/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương như sau:

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P đối với bị đơn ông Trần Văn Q về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

  • - Buộc ông Trần Văn Q phải trả lại cho ông Nguyễn Thanh P phần đất có diện tích 3.924.3m² thuộc thửa đất 6, 746, 748, 750, 752 tờ bản đồ số 36, 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khu đất có tứ cận: Phía Đông giáp với thửa đất số 753, 754; Phía Tây giáp với thửa đất số 851; Phía Nam giáp tờ bản đồ số 40; Phía Bắc giáp với thửa đất số 811, 753. (Kèm theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 542-2020 ngày 13/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D).
  • - Tạm giao cho ông Nguyễn Thanh P được quyền quản lý, sử dụng diện tích 619,6m² thuộc thửa đất số 745 và diện tích 247,8m² thuộc một phần thửa đất số 753, tờ bản đồ số 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khu đất có tứ cận: Phía Đông giáp với thửa đất số 746, 754; Phía Tây giáp với thửa đất số 851, 752; Phía Nam giáp thửa đất số 06, tờ bản đồ số 40; Phía Bắc giáp với thửa đất số 811, 753.

Ông Nguyễn Thanh P có trách nhiệm liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Ông Nguyễn Thanh P được quyền quản lý, sử dụng tài sản gắn liền với đất là 300 cây cao su trồng năm 2010 trên phần đất diện tích 4.791,7m² thuộc thửa đất 6, 745, 746, 748, 750, 752, 753 tờ bản đồ số 36, 40 tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn Q số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) mà bà Trần Thị H đã nhận của ông Trần Văn Q và số tiền lãi là 17.643.733 đồng (mưởi bảy triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm ba mươi ba đồng). Tổng cộng số tiền là 27.634.733 đồng (hai mươi bảy triệu sáu trăm ba mươi tư nghìn bảy trăm ba mươi ba đồng).

- Ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn Q giá trị 300 cây cao su với tổng số tiền 143.700.000 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).

20

Kể từ ngày Trần Văn Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Thanh P không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng ông Nguyễn Thanh P còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn Q đối với ông Nguyễn Thanh P, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị Diễm T3 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

2.3. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/12/2021 của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P đối với bị đơn ông Trần Văn Q.

2.4. Ông Trần Văn Q có trách nhiệm giao trả lại cho ông Nguyễn Thanh P 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00553 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/12/1997 cho hộ bà Trần Thị H.

2.5. Chi phí tố tụng:

  • - Chi phí đo đạc: 5.443.247 đồng (năm triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng) theo Biên bản thanh lý hợp đồng đo đạc số 695/10/TLHĐ-CNVPĐKĐĐ ngày 23/10/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên, do đó bị đơn ông Trần Văn Q phải hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P số tiền 5.443.247 đồng (năm triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).
  • - Chi phí định giá tài sản 02 lần: 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng), nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên. Do đó, bị đơn ông Trần Văn Q phải hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

2.6. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Trần Văn Q phải nộp số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2016/0045610 ngày 13/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Ông Trần Văn Q phải tiếp tục nộp số tiền còn lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  • - Ông Nguyễn Thanh P phải nộp 8.566.736 đồng (tám triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi sáu đồng), được trừ số tiền 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số AA/2016/0033102 ngày 21/7/2020, số AA/2016/0045377 ngày 19/11/2020 và số AA/2021/0007200 ngày 17/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh P số tiền tạm ứng án phí còn lại là 933.263 đồng (chín trăm ba mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi ba đồng).

21

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bị đơn ông Trần Văn Q số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số số 0009320 ngày 18/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - TAND huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 14/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger