|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày: 09-5-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đàm Kiến Dân;
- Ông Hoàng Duy Hùng;
- - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST - HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 04/4/2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 07/2024/HSST-QĐ ngày 25/4/2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Ngọc N
sinh năm 1991 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; Mã số định danh: 083091007993. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn B (đã chết) và bà Đàm Ngọc L; Bị cáo có vợ (đã ly hôn) và có 01 người con; Tiền án: không; Tiền sự:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03672 ngày 21/7/2020 của Trưởng Công an xã T xử phạt Huỳnh Ngọc N 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất may tuý (bị cáo chưa nộp phạt);
Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 44/QĐ-TA ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (chấp hành xong ngày 24/10/2021);
Nhân thân:
Ngày 27/4/2009 Quyết định khởi tố bị can số 83/2009 đối với Huỳnh Ngọc N về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/7/2009 Quyết định đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ điều tra vụ án Hình sự do chuyển biến tình hình thực hiện theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0026 ngày 28/12/2016 của Công an xã T xử phạt Huỳnh Ngọc N số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Quyết định số 182/QĐ-UBND ngày 03/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Huỳnh Ngọc N.
Hiện bị cáo đang chấp hành cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tiền Giang theo Quyết định số 35/2023 ngày 01/8/2023 của Toà án nhân dân Toà án nhân dân thị xã Gò Công (nay là Toà án nhân dân thành phố Gò Công), tỉnh Tiền Giang. Thời hạn là 15 tháng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Phạm Tuấn K, sinh năm: 1979; (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1988; (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 09 tháng 7 năm 2023, bị cáo đi bộ từ hướng xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang về hướng xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Khi đi đến địa phận thành phố G thì bị cáo phát hiện xe mô tô biển số 53X5-5485 của anh Phạm Tuấn K dựng trước cổng rào “Văn phòng dịch vụ mua bán bất động sản Thảo My” tọa lạc tại khu phố V, phường L, thành phố G không người trông coi, xe không có chìa khóa và không khóa cổ nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo đến vị trí xe biển số 53X5-5485 rồi lén lút dẫn xe đi, đi được một đoạn khoảng hơn 500 mét, thấy không có người phát hiện thì bị cáo dừng lại bứt dây điện nguồn để khởi động máy xe. Sau khi xe nổ máy, bị cáo điều khiển xe vừa lấy trộm được đến nhà của anh Nguyễn Thanh H để kêu bán xe và nói là xe này ở bên nhà của bị cáo mới lấy qua. Anh H đồng ý mua xe với giá 2.000.000 (hai triệu) đồng; bị cáo tiêu xài cá nhân hết số tiền này.
Đến ngày 10/7/2023, anh K trình báo sự việc với cơ quan Công an. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Gò Công thu hồi xe mô tô biển số 53X5-5485 từ anh H, mời bị cáo làm việc thì bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.
Theo Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố G xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án như sau: 01 (một) xe mô tô loại “CITI” màu đỏ, biển số 53X5-5485 (đã qua sử dụng) có giá trị: 2.730.000 (hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSTXGC ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Tuy nhiên, sau khi xác minh thêm về lý lịch của bị cáo thì có bổ sung như sau:
Về tên của mẹ bị cáo sửa từ Đàm Ngọc L1 thành Đàm Ngọc L;
Về tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03672 ngày 21/7/2020 của Trưởng Công an xã T xử phạt Huỳnh Ngọc N 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất may tuý (bị cáo chưa nộp phạt);
Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 44/QĐ-TA ngày 29/12/2020 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (chấp hành xong ngày 24/10/2021);
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Căn cứ hoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc N từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố G đã trao trả cho anh Phạm Tuấn K:
- 01 (một) xe mô tô hai bánh loại “CITI” màu đỏ biển số 53X5-5485 (đã qua sử dụng), số máy: CT100E-1154833, số khung: CT100F-1154782. Hiện trạng xe khi bị lấy trộm là dán nhãn hiệu “Dream” màu nho là do anh Phạm Tuấn K trong quá trình sử dụng có thay đổi màu sơn và dán tem xe khác.
- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số A1867498 mang tên Hoàng Ngọc T, nơi cư trú: Số C Lô H, chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc trao trả là phù hợp nên đề nghị ghi nhận.
- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc N bồi thường cho anh Trần Thanh H1 số tiền 2.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo Huỳnh Ngọc N rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3]. Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Ngọc N đã khai nhận: Vào ngày 09/7/2023, tại khu phố V, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, bị cáo thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Phạm Tuấn K, tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 53X5-5485, trị giá 2.730.000 (hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.
Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với các biên bản có trong hồ sơ vụ án; vật chứng thu giữ; kết luận định giá số 30/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố G, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Huỳnh Ngọc N đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị là 2.730.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về động cơ, mục đích của tội phạm: Bị cáo có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì chây lười lao động, khi phát hiện tài sản không người trông coi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được luật pháp bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[8]. Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (01 lần chưa nộp tiền phạt); 01 lần giáo dục tại xã, phường, thị trấn; 01 lần đưa đi cai nghiện bắt buộc; 01 lần bị khởi tố về tội Trộm cắp tài sản nhưng sau đó đình chỉ. Hiện tại bị cáo đang chấp hành cai nghiên tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Tiền Giang với thời gian là 15 tháng; bị cáo chưa khắc phục hậu quả đối với hành vị mình gây ra, chưa bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà xem thường pháp luật, không lo làm ăn mà lại xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh H yêu cầu bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng tiền đã mua xe, bị cáo cũng đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường, bị cáo xin khi nào chấp hành hình phạt xong mới bồi thường sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh H. Do đó cần buộc bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho anh H sau khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định tại các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.
[10]. Theo qui định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
[11]. Đối với anh Nguyễn Thanh H khai khi mua xe 53X5-5485 của bị cáo thì không biết đây là xe do bị cáo lấy trộm nên cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có cơ sở.
Đối với anh Hoàng Ngọc T, nơi cư trú: Số C Lô H, chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đang đứng tên giấy đăng ký xe mô tô số A1867498, qua xác minh của công an thể hiện tại địa chỉ trên không có người tên Hoàng Ngọc T, sau này nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[12]. Về vật chứng:
Ngày 12/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố G trao trả lại cho anh K:
- 01 (một) xe mô tô hai bánh loại “CITI” màu đỏ biển số 53X5-5485 (đã qua sử dụng), số máy: CT100E-1154833, số khung: CT100F-1154782. Hiện trạng xe khi bị lấy trộm là dán nhãn hiệu “Dream” màu nho là do anh Phạm Tuấn K trong quá trình sử dụng có thay đổi màu sơn và dán tem xe khác.
- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số A1867498 mang tên Hoàng Ngọc T, nơi cư trú: Số C Lô H, chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.
[13]. Bị cáo Huỳnh Ngọc N phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[14]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Tuy nhiên mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát còn chưa nghiêm khắc nên cần có một mức hình phạt nghiêm khắc hơn để đủ sức răn đe bị cáo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 48; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Các Điều 106; 136; 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc N có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Thanh H số tiền là 2.000.000 đồng. Thời gian bồi thường sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Thảo |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc Nh, sinh năm 1991 tại tỉnh BT; Nơi cư trú: ấp TPN, xã TT huyện CT, tỉnh Bến Tre; Mã số định danh: 083091007993. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn B (đã chết) và bà Đàm Ngọc L; Bị cáo có vợ (đã ly hôn) và có 01 người con
