Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2024/HNGD-ST

Ngày 08 tháng 5 năm 2024

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hợi
  2. Ông Dương Viết Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1998

Địa chỉ: TDP G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Chị L có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Tô Văn C, sinh năm 1990

Địa chỉ: Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Dương Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Tô Văn C tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 05/01/2017, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối gì. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh C tại xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng chỉ được một thời gian ngắn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C không tu chí làm ăn, chơi bời sa vào tệ nạn xã hội nghiện ma túy nhiều lần phải đi chấp hành án phạt tù, đi cai nghiện ma túy bắt buộc, thiếu trách nhiệm với vợ con. Chị và bố chồng đã khuyên bảo anh C nhiều lần nhưng anh C không thay đổi nên đến năm 2022 chị đã mang cả hai con về bên ngoại ở. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tô Văn C, để chị ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Tô Bảo N, sinh ngày 23/11/2017 và Tô Bảo A, sinh ngày 28/12/2021. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung vì anh C không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về công nợ chung: Không có

Về phía bị đơn anh Tô Văn C: Quá trình giải quyết vụ án anh C không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải) theo quy định pháp luật.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương và nơi cư trú của anh C xác định: Anh C có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh hoạt, chung sống cùng nhà với bố đẻ là ông Tô Văn T (mẹ đẻ anh C đã chết, hiện anh C và ông T đang chung sống cùng nhau) tại Xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Anh C đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh C không muốn vợ chồng ly hôn nên anh C nói sẽ không đến Tòa án để làm việc. Anh C đã nhiều lần đi cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng không từ bỏ được, anh C cũng nhiều lần phải đi chấp hành án phạt tù liên quan đến ma túy. Anh C vừa mới đi cai nghiện ma túy bắt buộc trở về địa phương, hiện anh C đang sinh sống cùng với bố đẻ là ông Tô Văn T và thường xuyên có mặt tại địa phương.

Do anh C không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được nên vụ án phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa chị Dương Thị L vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C và được trực tiếp nuôi hai con chung là cháu Tô Bảo N và cháu Tô Bảo A, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, công nợ chung chị xác định không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định pháp luật. Đối với nguyên đơn tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 70,71 của BLTTDS. Về phía bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

  • Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L và cho chị L được ly hôn anh Tô Văn C.
  • Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Tô Bảo N, sinh ngày 23/11/2017 và Tô Bảo A, sinh ngày 28/12/2021cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Các bên không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định.
  • Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Dương Thị L và anh Tô Văn C kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 05/01/2017. Vì nhiều nguyên nhân, nay chị Dương Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Tô Văn C có nơi cư trú tại xóm P, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự tham gia tố tụng của đương sự:

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nguyên đơn là chị Dương Thị L đã đến Tòa án viết bản tự khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập của Tòa án. Tuy nhiên, đối với bị đơn anh Tô Văn C, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, lập biên bản làm việc tại nơi cư trú của anh C, thì được bố đẻ của anh C là ông Tô Văn T cùng với chính quyền địa phương cho biết anh C vừa mới đi cai nghiện ma túy bắt buộc trở về địa phương, hiện nay anh C đang sinh sống cùng nhà với bố đẻ là ông Tô Văn T tại địa phương, anh C vẫn thường xuyên có mặt ở địa phương, anh C đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh C không muốn ly hôn nên không đến Tòa án làm việc. Ngày 24/4/2024 Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm, nhưng bị đơn anh Tô Văn C mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1, Điều 227 của Bộ Luật tố tụng Dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/QÐST- HNGĐ ngày 24/4/2024 và đồng thời tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa tại nơi thường trú của bị đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Tô Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Lý do chị L xin ly hôn anh C là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C không tu chí làm ăn, ham chơi mắc tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy, nhiều lần phải đi chấp hành án phạt tù, nhiều lần phải đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng anh C vẫn không từ bỏ được ma túy, anh C không có trách nhiệm, không quan tâm vợ con khiến cho cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, ngột ngạt. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn anh C. Xét thấy, chị L và anh C không có sự quan tâm, chia sẻ yêu thương nhau trong cuộc sống. Như vậy, mục đích hôn nhân giữa chị L và anh C không đạt được, cuộc sống chung đã không còn tồn tại, nên cần chấp nhận cho chị L được ly hôn anh C là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Anh C và chị L có 02 con chung là cháu Tô Bảo N, sinh ngày 23/11/2017 và Tô Bảo A, sinh ngày 28/12/2021. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay các cháu Tô Bảo N và Tô Bảo A đều còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người mẹ, anh C trong suốt thời gian dài đi chấp hành án phạt tù, đi cai nghiện ma túy bắt buộc ít có thời gian gần gũi với các con. Hơn thế nữa, hiện nay các cháu đang sinh sống ổn định cùng chị L, cần tránh làm thay đổi, xáo trộn cuộc sống của các cháu. Vì vậy, cần giao cho chị L trực tiếp nuôi cháu Tô Bảo N, sinh ngày 23/11/2017 và Tô Bảo A, sinh ngày 28/12/2021 là phù hợp với thực tế và pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn, anh C không trực tiếp nuôi con, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L xác định quá trình chung sống vợ, chồng không có tài sản chung, công nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này chị L và anh C có tranh chấp về tài sản chung, công nợ chung thì có quyền khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Dương Thị L phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51 và Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L, cho chị L được ly hôn với anh Tô Văn C.
  2. Về con chung: Giao cho chị Dương Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Tô Bảo N, sinh ngày 23/11/2017 và Tô Bảo A, sinh ngày 28/12/2021 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Về quyền thăm nom con: Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003733 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Thông báo về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt (chị L) báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt (anh C) báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án này được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (01 bản);
  • - VKS ND huyện, tỉnh (02 bản);
  • - T.H.A DS huyện (01 bản);
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - UBND xã Lương Phú;
  • - Lưu HS, VP, bộ phận;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGD-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 14/2024/HNGD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Luy, cho chị Luy được ly hôn với anh Tô Văn Chiến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger