Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC HÓA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/DS-ST

Ngày: 08-5-2024

V/v “Tranh chấp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khởi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Loan
  2. Ông Lê Văn Những

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quây là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà V T Th, sinh năm 1965 ; Địa chỉ: kh ph 2, Thị Trấn B Ph Th, huyện M H, tỉnh L A.

Bị đơn: Ông K H A, sinh năm 1986 và bà Ng Th Th L, sinh năm: 1990; Cùng địa chỉ: khu phố 2, thị trấn B Ph Th, huyện M H, tỉnh L A.

Bà Th có mặt; Ông Anh, Bà L vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn bà V T Th trình bày như sau: Nguyên vào năm 2016 Bà Th có tổ chức tham gia chơi góp vốn xoay vòng tương trợ vốn sản xuất và bầu Bà Th làm tổ trưởng đầu thảo của dây hụi. Vợ chồng Bà L và Bà L có đến xin Bà Th cho vô chơi 01 phần hụi và sẽ thực hiện theo quy ước của tập thể. Bà Th có cho vợ chồng Bà L và Bà L chơi một phần hụi.

Hụi 10.000.000 đồng và khui vào ngày 15/02/2016 (AL) hụi 01 năm khui 03 lần, hụi gồm 19 thành viên tham gia trong đó có vợ chồng Bà L và Bà L tham gia 01 phần.

Vào ngày 15/02/2017 vợ chồng Bà L và Bà L bốc thăm trúng hụi và Bà Th giao hụi với số tiền là 117.000.000 đồng. Từ khi vợ chồng Bà L và Bà L ký nhận hốt số tiền hụi cho đến nay không đóng hụi chết cho Bà Th. Bà Th phải chàng số tiền hụi để đóng cho các thành viên khác.

Tháng 8/2022 Bà Th có gửi đơn lên tổ hòa giải khu phố để yêu cầu giải quyết, trong buổi hòa giải vợ chồng Bà L và Bà L có hứa mỗi năm sẽ trả Bà Th 20.000.00 đồng nhưng đến nay không thực hiện lời hứa và trả Bà Th được đồng nào.

Nay bà V T Th yêu cầu bà ông K H A và bà Ng Th Th L liên đới trả số tiền hụi là 117.000.000 (một trăm mười bảy triệu) đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ông K H A và bà Ng Th Th L trả số tiền hụi là 117.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông K H A và bà Ng Th Th L đã được Tòa án tống đạt theo thủ tục tố tụng thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và sau đó vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai. Tòa án đã triệu tập các bị đơn để tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự. Nhưng Bà L và Bà L tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Về tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, gồm có: “ giấy chơi hụi” . Bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì khác cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà V T Th cung cấp giấy chơi hụi. Tại phiên tòa nguyên đơn xác định số tiền trong quá trình chơi hụi Bà L và Bà L không đóng hụi chết theo thỏa thuận khi tham gia chơi hụi cho nguyên đơn. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền như đã thỏa thuận, do đó nguyên đơn khởi kiện nên xác định đây là vụ việc tranh chấp về dân sự, cụ thể là tranh chấp hợp đồng chơi hụi, Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do đây là tranh chấp dân sự giữa cá nhân với cá nhân, bị đơn có nơi cư trú tại: Khu phố 2, thị trấn Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An có xác nhận của Công an thị trấn Bình Phong Thạnh. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Xét bị đơn là ông K H A và bà Ng Th Th L đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Về thời hiệu khởi kiện: Do không có đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu nên căn cứ vào Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nội dung của vụ án:

[5.1] Về yêu cầu trả số tiền nợ gốc 117.000.000 (một trăm mười bảy triệu) đồng của nguyên đơn bà V T Th: Căn cứ vào giấy chơi hụi và biên biên hòa giải của khu phố 2, thị trấn Bình Phong Thạnh. Hội đồng xét xử xét thấy, khi tham gia giao dịch các đương sự là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành lực hành vi dân sự, việc tham gia giao dịch xuất phát từ sự tự nguyện giữa các bên, giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, có đủ căn cứ xác bị đơn là ông K H A và bà Ng Th Th L còn nợ Bà Th số tiền hụi 117.000.000 (một trăm mười bảy triệu) đồng. Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án thông báo đầy đủ về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến và không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, ....bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập giấy chơi hụi. Do quá thời hạn trả tiền theo thỏa thuận nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ là vi phạm thời hạn thanh toán.

[5.2] Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông K H A và bà Ng Th Th L có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 471 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V T Th đối với ông K H A và bà Ng Th Th L.

Buộc ông K H A và bà Ng Th Th L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V T Th số tiền là 117.000.000 (một trăm mười bảy triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông K H A và bà Ng Th Th L phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí là: 5.850.000 (năm tiệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.

Hoàn trả cho bà V T Th số tiền 2.925.000 (hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003007, ngày 14/11/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa.

3. Về quyền kháng cáo: Bà V T Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông K H A và bà Ng Th Th L, có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

4. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Mộc Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Hóa;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khởi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 14/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu trả tiền hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger