Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 07/6/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu

Ông Nguyễn Xuân Trường

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 06/2024/TLPT-HNGĐ ngày 11/4/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Điểm cầu thành phần: Trụ sở Tòa án nhân nhân huyện T.

Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Ngọc L – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 08/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXPT - HNGĐ ngày 14/5/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1999 (có mặt).

ĐKTT: Thôn L, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Địa chỉ hiện ở: Xóm B, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 ( có mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.

3. Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (có mặt).

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ - ST ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

* Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị L1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 01/10/2018 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là xã A), huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không ai chịu nhường ai dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 11/2023. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 17/10/2019. Khi ly hôn, chị xin nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị làm công nhân, thu nhập trung bình một tháng khoảng 9 triệu đồng.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Vợ chồng chị tự thoả thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Nguyễn Văn T trình bày về thời gian kết hôn, việc đăng ký kết hôn và con chung như chị L1 đã khai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 11/2023 thì nảy sinh mâu thuẫn. Chị L1 đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, mỗi người một ý. Anh mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để con cái đỡ khổ, đỡ mang tiếng có bố mẹ bỏ nhau. Tuy nhiên nếu phải ly hôn, anh xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị L1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh làm công nhân, thu nhập trung bình một tháng là 9 triệu đồng. Anh đã có đất riêng. Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Vợ chồng anh tự thoả thuận nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Lời khai của gia đình chị L1, gia đình anh T và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Sau một thời gian chung sống, vợ chồng chị L1, anh T đã nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ mấy tháng nay. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng khác nhau về suy nghĩ, lối sống, không ai chịu nhường ai. Bà Phạm Thị M là mẹ đẻ chị L1 có quan điểm vợ chồng bà sẽ hỗ trợ về chỗ ở, hỗ trợ chị L1 chăm sóc cháu K nếu chị L1 được giao nuôi con. Bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của anh T có quan điểm sẽ hỗ trợ anh T chăm sóc cháu K nếu anh T được giao nuôi con.

Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ- ST ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Nguyễn Thị L1 nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Chấp nhận tự nguyện của chị L1 không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm anh T có đơn kháng cáo về phần con chung. Cụ thể anh T đề nghị xin được nuôi con.

Tại phiên tòa, anh T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Chị L1 có quan điểm không chấp nhận kháng cáo của anh T, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa cho thấy cả anh T và chị L1 đều có đủ điều kiện nuôi con, nguyện vọng nuôi con của anh chị là chính đáng. Tuy nhiên xét thấy cháu K hiện còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ hơn. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cháu K cho chị L1 nuôi dưỡng là phù hợp. Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh T. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.

[2] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng xin được nuôi con của anh T và chị L1 đều chính đáng, thể hiện trách nhiệm của anh chị đối với con chung. Tuy nhiên khi xem xét giao con cho ai nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử cần phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con.

Căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ kết quả xác minh cho thấy anh T và chị L1 hiện đều là công nhân, có công việc và có thu nhập ổn định. Nếu anh chị được giao nuôi con thì đều được gia đình hỗ trợ trong việc chăm sóc cháu K. Anh T có nhà đất riêng. Chị L1 mặc dù ở với bố mẹ nhưng bố mẹ chị L1 cũng có quan điểm sẽ tạo điều kiện tốt nhất về chỗ ở và hỗ trợ chị L1 trong việc chăm sóc cháu K. Như vậy có thể nói cả anh T và chị L1 đều đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên xét thấy cháu K hiện còn nhỏ nên nếu giao cháu K cho chị L1 nuôi dưỡng thì việc chăm sóc con sẽ tốt hơn. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã giao con cho chị L1 nuôi dưỡng là phù hợp.

Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T.

[3] Về án phí phúc thẩm: Anh T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 12/2024/HNGĐ- ST ngày 08/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về phần quan hệ con chung như sau:

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trung K, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Nguyễn Thị L1 nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Chấp nhận tự nguyện của chị L1 không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

    Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  2. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Hà theo biên lai thu số 0001046 ngày 08/3/2024. Anh T đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thanh Hà;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger