Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/8/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thanh Hoàn và bà Lê Thị Thu Anh
  • - Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 06/8/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/5/2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-DS ngày 16/7/2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Ninh D, sinh năm 1991
  • Nơi thường trú: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
  • Chỗ ở hiện nay: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983
  • Nơi thường trú: thôn A, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
  • Chỗ ở hiện nay: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (Tòa án đã tống đạt hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn chị Hoàng Thị Ninh D trình bày:

Chị Hoàng Thị Ninh D và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương vào năm 2009. Hôn nhân của hai người hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng lẫn nhau, anh H không chịu tu trí làm ăn dẫn đến nợ nần, bản thân anh H hay ốm đau thường xuyên phải đi viện. Do đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai người đã ly thân từ năm 2022, không còn ai quan tâm đến ai nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn vì mâu thuẫn đã quá trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

  • - Về con chung: chị D và anh H có 02 con chung là Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 29/01/2010; Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 31/3/2013. Quan điểm của chị D sau khi ly hôn chị nhận nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung: chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về khoản nợ chung: không có.

* Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: việc chung sống, đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị D như chị D trình bày là đúng. Nay chị D yêu cầu ly hôn anh không đồng ý với lý do anh vẫn còn thương yêu vợ con nên mong muốn hai vợ chồng quay về đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái, nếu chị D cứ kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Về con chung: anh H xác nhận có 02 con chung là Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 31/3/2013. Quan điểm của anh H là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Về tài sản chung: anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản xác minh ngày 06/6/2024 do ông Nguyễn Văn S - trưởng khu H, phường N, thành phố M cung cấp như sau: chị Hoàng Thị Ninh D, sinh năm 1991 và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983, có sinh sống tại khu H, phường N, thành phố M. Hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhưng không báo chính quyền để hòa giải. Tuy nhiên, chính quyền có biết được thông tin về mâu thuẫn của vợ chồng anh H nguyên nhân chính anh H không có công ăn việc làm ổn định nên họ thường xuyên cãi vã nhau và hiện đã sống ly thân nhau. Nay chị D có đơn xin ly hôn anh H đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết cho họ được ly hôn.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái có quan điểm: qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thì vụ án được thụ lý, giải quyết đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, việc triệu tập người tham gia tố tụng đảm bảo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo và có căn cứ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã làm đầy đủ thủ tục đúng quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị Ninh D. Xử cho chị D được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 02 con chung là Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 31/3/2013 cho chị Hoàng Thị Ninh D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: ngày 03/5/2024, người khởi kiện là chị Hoàng Thị Ninh D nộp đơn tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 10/5/2024 Tòa án tiến hành thụ lý vụ án bảo đảm đúng quy định tại Điều 195 và 197 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về thẩm quyền: căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của người khởi kiện đề ngày 15/4/2024, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại Điều 28; Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về sự vắng mặt của các đương sự: nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án tham gia tố tụng đúng theo quy định, sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt nhưng có quan điểm thể hiện trong biên bản lấy lời khai về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, bị đơn không ký vào biên bản và sau đó không tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ các điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng bị đơn.

[2] Về tình cảm: chị Hoàng Thị Ninh D và anh Nguyễn Văn H tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Hai người làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương vào năm 2009. Chị D và anh H chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng, anh H không tu trí, chịu khó làm ăn dẫn đến nợ nần, bản thân anh H hay ốm đau thường xuyên phải đi viện điều trị. Do đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai người đã ly thân từ năm 2022, không còn ai quan tâm đến ai nữa. Vì thế chị D thấy tình cảm vợ chông không còn, không có khả năng hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Quan điểm anh H không đồng ý ly hôn chị D vì anh cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn và anh mong muốn hai người quay về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, anh H không hợp tác khi giải quyết vụ án để bảo vệ quan điểm của mình. Do đó không có căn cứ chấp nhận.

Qua các tài liệu chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy nguyện vọng xin ly hôn của chị Hoàng Thị Ninh D là hoàn toàn chính đáng phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Về con chung: trong quá trình chung sống chị D và anh H sinh được 02 con chung là Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 29/01/2010; Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 31/3/2013. Quan điểm của chị D sau khi ly hôn chị nhận nuôi cả hai con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của chị D là hoàn toàn chính đáng vì từ khi hai vợ chồng ly thân hai cháu đang ở ổn định với chị D và bản thân anh H cũng không có trách nhiệm đến thăm nom con chung, phù hợp với quan điểm của hai con chung là có nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn thì sẽ ở cùng mẹ là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: các đương sự đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: án phí ly hôn chị Hoàng Thị Ninh D phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 225, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 51 Điều 56, khoản 2 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về tình cảm: chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị Ninh D. Xử cho chị Hoàng Thị Ninh D được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: xử giao cả 02 con chung là Nguyễn Hoàng H1, sinh ngày 29/01/2010 và Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 31/3/2013 cho chị Hoàng Thị Ninh D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  4. Về án phí và quyền kháng cáo: chị Hoàng Thị Ninh D phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003129 ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Chị D đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái;
  • - Các đương sự.
  • - UBND xã Tân Hương, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger