TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày 06 tháng 6 năm 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tin.
- Ông Đào Xuân Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Sơn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/02/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08/5/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị O, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Đặng Ngọc T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/01/2024, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị O trình bày: Chị và anh Đặng Ngọc T sinh năm 1984 do quan hệ quen biết tìm hiểu và đi đến hôn nhân, ngày 30-8-2007 chị và anh Đặng Ngọc T có tổ chức đám cưới tại địa phương, sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đi làm ăn với nhau ở nhiều nơi thì về chung sống xây dựng gia đình ở Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cả hai chung sống với nhau được một thời gian thì bộc lộ ra nhiều vấn đề trong cuộc sống hôn nhân. Chị và anh T dần mất tiếng nói, hay xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung trong việc làm ăn kinh tế cũng như nuôi dạy con cái. Hai anh chị ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay, anh T là người chuyển dọn ra ở riêng không còn chung sống với 5 mẹ con chị, mọi công việc trong gia đình do chị tự gánh vác và các con vẫn ở chung với mẹ và bà ngoại.
Về con chung: Vợ chồng có 04 người con chung: Cháu lớn là Đặng Vũ Anh K, sinh ngày 11/07/2007; cháu Đặng Vũ Gia B sinh ngày 09/12/2013, cháu Đặng Vũ Quang K1, sinh ngày 20/9/2018; cháu Đặng Vũ Minh K2 sinh ngày 17/8/2020. Hiện nay tất cả các con đều đang ở cùng chị và bà ngoại. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cả 04 con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị.
Trường hợp anh T đề nghị được nuôi con chung chị không đồng ý vì lý do anh T thường xuyên đi làm ăn xa nhà, không có điều kiện về thời gian và kinh tế để chăm sóc con. Bản thân anh T từ khi bỏ ra khỏi nhà mẹ con chị O đến nay anh không thăm nom, chăm sóc gì con chung. Cả 04 cháu đều ở với chị từ nhỏ và do gia đình chị chăm sóc các cháu. Gia đình anh T thì ở xa, không giúp anh T chăm sóc các con được.
Bản thân chị O kinh doanh online và có thu nhập ổn định hàng tháng khoảng 30.000.000 đồng, đảm bảo chăm sóc nuôi dưỡng được các con chung. Hiện tại chị vẫn sinh sống cùng nhà mẹ đẻ chị nên mẹ chị giúp chị chăm sóc các cháu, chỉ dạy các cháu học hành thay chị những lúc chị bận công việc.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đặng Ngọc T: Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho anh T, nhưng anh T không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên toà hôm nay, anh T vắng mặt không có lý do.
Ngày 8/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng mở phiên tòa, tại phiên tòa anh T vắng mặt không có lý do, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đề nghị hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Vũ Thị O có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố nội dung vụ án, thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị O và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ quy định của BLTTDS.
Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ, bỏ mất quyền của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định..
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 227, 228, 271, 273 BLTTDS; Căn cứ các Điều 51, 53, 56, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình để xử:
- - Quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị O được ly hôn anh Đặng Ngọc T.
- - Con chung: Giao con chung là Đặng Vũ Anh K, sinh ngày 11/07/2007; cháu Đặng Vũ Gia B sinh ngày 09/12/2013; cháu Đặng Vũ Quang K1, sinh ngày 20/9/2018; cháu Đặng Vũ Minh K2 sinh ngày 17/8/2020 cho chị Vũ Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
- - Tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Án phí: Chị Vũ Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Kiến nghị khắc phục: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị O đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị O là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Đặng Ngọc T, anh T có nơi cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
[3]. Về nội dung:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị O và anh Đặng Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị O và anh Đặng N là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn anh T về chung sống cùng chị O và gia đình chị O. Ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống cũng như trong vấn đề làm ăn kinh tế nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã hòa giải nhiều lần không tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị O và anh T đã chính thức ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Nay, chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị O đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Đặng Ngọc T.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương thì thấy: Chị O và anh T có đăng ký kết hôn năm 2007. Sau khi kết hôn cả hai vợ chồng đi làm ăn ở nhiều nơi cho đến năm 2015 chị O anh T về sinh sống cùng bà B1 là mẹ đẻ chị O tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Theo địa phương thì ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có bất đồng trong quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế, từ tháng 8/2023 đến nay anh T bỏ đi khỏi nhà không chung sống cùng chị O nữa, anh T đi đâu làm gì thì địa phương không nắm được, thỉnh thoảng vẫn về thăm và đưa các con đi chơi, sau đó lại đi ngay, địa chỉ cụ thể anh T hiện đang ở đâu thì địa phương không nắm được. Nay chị O xin ly hôn anh T địa phương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Phạm Thị B2 là mẹ đẻ của chị Vũ Thị O, bà B2 cho biết: Chị O và anh T kết hôn năm 2007, ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Do tính chất công việc thường xuyên phải thay đổi cho đến năm 2015 thì anh T chị O về sinh sống cùng với bà tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng giữa năm 2023 thì vợ chồng chị O anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên có bất đồng trong quan điểm sống và bà có hỏi chị O về mâu thuẫn thì được chị O nói rằng do anh T có mối quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng không thể hòa hợp dẫn đến hay cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng nên từ tháng 8/2023 anh T bỏ nhà đi để lại vợ con khác chung sống cùng với bà, thi thoảng những ngày nghỉ anh T vẫn về để thăm nom và đưa các con đi chơi. Địa chỉ cụ thể anh T đi đâu làm gì thì bà không biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Chị O xin ly hôn anh T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, chứng tỏ hôn nhân giữa chị O và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị O được ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2]. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị O anh T có 04 con chung là cháu Đặng Vũ Anh K, sinh ngày 11/07/2007; cháu Đặng Vũ Gia B sinh ngày 09/12/2013; cháu Đặng Vũ Quang K1, sinh ngày 20/9/2018; cháu Đặng Vũ Minh K2 sinh ngày 17/8/2020. Hiện 04 con chung đang ở với chị O, các cháu phát triển bình thường. Nay vợ chồng ly hôn, chị O đề nghị được nuôi cả 04 con chung là cháu Đặng Vũ Anh K, cháu Đặng Vũ Gia B, cháu Đặng Vũ Quang K1 và cháu Đặng Vũ Minh K2. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử thấy hiện nay 04 con chung đều đang ở cùng chị O. Chị O hiện đang kinh doanh online tại nhà thu nhập khoảng 30.000.000 đồng/01 tháng, đủ khả năng nuôi dậy con. Đồng thời việc chăm sóc các con chung còn có sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía mẹ chị O. Anh T từ khi ly thân với chị O đến nay không trực tiếp chăm sóc, quan tâm việc học hành của các con chung, hiện nay anh T không có công việc cụ thể chỗ ở không ổn định. Phía địa phương và gia đình chị O đều khẳng định anh T không có khả năng chăm sóc nuôi dưỡng con chung tốt bằng chị O và đề nghị Tòa án giao cả 04 con chung là cháu Đặng Vũ Anh K, cháu Đặng Vũ Gia B, cháu Đặng Vũ Quang K1 và cháu Đặng Vũ Minh K2 cho chị O tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định và phát triển tốt nhất thì cần chấp nhận yêu cầu của chị O, giao cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung là cháu Đặng Vũ Anh K, cháu Đặng Vũ Gia B, cháu Đặng Vũ Quang K1 và cháu Đặng Vũ Minh K2 là phù hợp với khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.
Sau khi vợ chồng ly hôn, anh T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này là phù hợp với các điều 58, 82 luật hôn nhân gia đình.
[3.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị O không đề nghị anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.4]. Về tài sản chung, công nợ: Chị O không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Vũ Thị O là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, X:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị O được ly hôn anh Đặng Ngọc T.
- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con chung là cháu Đặng Vũ Anh K, sinh ngày 11/07/2007; cháu Đặng Vũ Gia B sinh ngày 09/12/2013; cháu Đặng Vũ Quang K1, sinh ngày 20/9/2018; cháu Đặng Vũ Minh K2 sinh ngày 17/8/2020. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Vũ Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị O đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005552 ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị O đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị O ly hôn anh T
