Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06-6-2024.

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Cường;

Ông Triệu Phúc Vượng;

- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lù Thị C, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lù Văn T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Vắng mặt tại phiên tòa (có đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” cùng các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lù Thị C trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh Lù Văn T về chung sống với nhau từ năm 2013, sau đó tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu vào ngày 29/02/2016. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh T không tu chí làm ăn, sa vào tệ nạn và không quan tâm đến vợ con, chị C và anh T đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Từ lúc chị C và anh T ly thân đến nay giữa hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung và không còn quan tâm đến nhau, chị C không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lù Văn T.

2. Về con chung: Quá trình chung sống chị C và anh Lù Văn T có 02 con chung là Lù Thị N, sinh ngày 20/12/2014 và Lù Minh H, sinh ngày 20/5/2017. Chị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Lù Thị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án anh Lù Văn T trình bày: Về tình trạng hôn nhân giữa anh và chị C đúng như chị C đã trình bày. Anh và chị C về chung sống với nhau từ năm 2013, đến năm 2016 thì đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Khi về ở với nhau thì hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó cũng có bất đồng mâu thuẫn, cãi vã và đã sống ly thân nhau từ năm 2020, không quan tâm gì đến nhau, anh T không còn tình cảm với chị C tuy nhiên anh T không đồng ý ly hôn vì chị C tự ý nộp đơn ly hôn mà không bàn bạc với anh. Về con chung: Anh T thừa nhận quá trình chung sống có 02 con chung như chị C trình bày, sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung và không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T khai đang làm ruộng và làm thuê, thu nhập 90.000.000 đồng/năm. Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh Lù Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa xét xử vụ án ngày hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lù Thị C và xem xét quyết định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị C được ly hôn với anh Lù Văn T; Về con chung: Giao con chung là Lù Thị N, sinh ngày 20/12/2014 cho chị C và giao con chung Lù Minh H, sinh ngày 20/5/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C, anh T đều không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: chị C, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Lù Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2024, anh Lù Văn T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, tại phiên tòa hôm nay, chị C có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị C và anh Lù Văn T tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2013 và đến ngày 29/02/2016 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống chị C và anh T hạnh phúc được một thời gian đầu đến năm 2019 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do anh T sa vào tệ nạn xã hội và không chịu tu chí làm ăn. Khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị C và anh T kéo dài và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, giữa chị C và anh T không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau nữa. Đặc biệt chị C không còn tình cảm yêu thương đối với anh T, không còn hạnh phúc khi chung sống với anh T, trong thời gian ly thân anh T cũng không tìm cách để hàn gắn tình cảm với chị C. Ủy ban nhân dân xã M cũng đã xác định giữa anh T và chị C có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Xét thấy hôn nhân giữa chị C và anh T đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị C và anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung là cháu Lù Thị N, sinh ngày 20/12/2014 và Lù Minh H, sinh ngày 20/5/2017 cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Xét thấy, con chung của anh T chị C là cháu H đang ở cùng với anh T và ông bà nội, còn cháu N ở với chị C và ông bà ngoại từ khi vợ chồng anh chị ly thân đến nay, các cháu đều được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ. Tính đến thời điểm giải quyết vụ việc cháu N và cháu H đã trên 7 tuổi, Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của các cháu thì cháu N có nguyện vọng muốn được ở cùng với chị C còn cháu H có nguyện vọng được ở với anh T. Bản thân chị C và anh T hiện đang làm ruộng và đi làm thuê, thu nhập trung bình khoảng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/01 tháng, ngoài ra anh T và chị C đều được bố mẹ đẻ hỗ trợ trong việc chăm sóc các con. Vì vậy, để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của các cháu Lù Minh H, Lù Thị N, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao cháu N cho chị C, giao cháu H cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lù Thị C và anh Lù Văn T đều không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Lù Thị C và anh Lù Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Lù Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do vậy, quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị C được ly hôn với anh Lù Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung là Lù Thị N, sinh ngày 20/12/2014 cho chị Lù Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Giao con chung là Lù Minh H, sinh ngày 20/5/2017 cho anh Lù Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
  3. Anh Lù Văn T, chị Lù Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  4. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lù Thị C, anh Lù Văn T không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về chia tài sản chung: Anh Lù Văn T và chị Lù Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Chị Lù Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị Lù Thị C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: BLTU/23/0000911 ngày 16/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - UBND xã Mường Khoa; huyện Tân Uyên.
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger