|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/KDTM-ST
Ngày: 06-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thiện.
- Bà Trần Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH J; trụ sở: Lô C, đường N, KCN S, thành phố T, tỉnh Bình Dương
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Châu T, sinh năm 1995; địa chỉ: 5 ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Long An – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/12/2023), vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH S; trụ sở: Số Thửa đất số 1569, tờ bản đồ số D4 (DC-15) khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH J (sau đây gọi là Công ty J) và Công ty TNHH S (sau đây gọi là Công ty S) có ký hợp đồng mua bán hàng hóa số 011/2023 ngày 26/4/2023. Đối tượng của hợp đồng là các loại dầu chuối, sơn... Giá cả mua bán theo sự thỏa thuận của hai bên được quy định trong bảng báo giá. Công ty J giao hàng theo đơn đặt hàng của Công ty S.
Phương thức thanh toán: Công ty S phải thanh toán cho Công ty J trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Công ty J chốt sổ vào ngày 25 hàng tháng. Công ty J sẽ đối chiếu công nợ và gửi cho Công ty S để ký xác nhận trước ngày 28 tây hàng tháng. Trường hợp Công ty S chậm thanh toán thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng N tại thời điểm chậm thanh toán trên tổng số tiền chậm thanh toán.
Thực hiện hợp đồng, Công ty S đã đặt hàng của Công ty J từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/5/2023 với tổng giá trị là 1.205.079.920 đồng. Công ty J đã giao đủ hàng hóa theo đơn đặt hàng và cũng đã lập bản đối chiếu công nợ được Công ty S xác nhận. Đến ngày 27/5/2023, Công ty J đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 32 cho Công ty S để xác nhận số tiền Công ty S phải thanh toán cho Công ty J là 1.205.079.920 đồng.
Đến tháng 6 năm 2023, Công ty S tiếp tục đặt hàng và Công ty J đã giao hàng với tổng giá trị hàng hóa là 290.259.200 đồng; đồng thời Công ty J đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 48 ngày 28/6/2023 cho Công ty S.
Như vậy, tổng số tiền mua hàng mà Công ty S còn nợ Công ty J là 1.495.339.120 đồng. Công ty J đã chốt sổ vào ngày 25/5/2023 đối với số tiền hàng đã giao cho Công ty S đến ngày 25/5/2023 và ngày 25/6/2025 đối với số tiền hàng giao trong tháng 6/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà Công ty J và Công ty S đã ký kết; đồng thời cũng đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng nhưng Công ty S không thanh toán bất cứ khoản tiền nào cho Công ty J.
Do đó, Công ty J yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc Công ty TNHH S thanh toán cho Công ty TNHH J số tiền nợ là 1.495.339.120 đồng.
- Buộc Công ty TNHH S phải có trách nhiệm trả tiền lãi chậm thanh toán cho Công ty TNHH J. Cụ thể như sau:
- Tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 1.205.079.920 đồng tính từ ngày 25/6/2023 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 13%/năm (tương ứng với 1,083%/tháng).
- Tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 290.259.200 đồng tính từ ngày 25/7/2023 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 13%/năm (tương ứng với 1,083%/tháng).
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh yêu cầu khởi kiện: Hợp đồng mua bán, đơn đặt hàng, hóa đơn giá trị gia tăng, bảng đối chiếu công nợ.
- Bị đơn Công ty S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập Công ty S đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Công ty S đều vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
-Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Buộc Công ty S có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc 1.495.339.120 đồng cho Công ty J; tiền lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 25/6/2023 trên số tiền 1.205.079.920 đồng và 25/7/2023 đối với số tiền 290.259.200 đồng đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 1,083%/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Công ty J khởi kiện tranh chấp đối với Công ty S liên quan đến Hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa 02 Công ty. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Công ty S có trụ sở tại thửa đất số 1569, tờ bản đồ số D4 (DC-15) khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[1.2] Bị đơn Công ty S được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn Công ty S trong quá trình tố tụng được
xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty J có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo Hợp đồng mua bán thể hiện các bên mua bán với nhau các loại dầu chuối, sơn... Thời gian giao hàng trong 01 tuần kể từ ngày nhận được đơn hàng của bên mua. Phương thức và thời hạn thanh toán là chốt sổ 30 ngày sẽ thanh toán. Bên bán chốt sổ vào ngày 25 hàng tháng và fax bản đối chiếu công nợ cho bên mua và bên mua có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu xác nhận công nợ rồi fax lại cho bên bán trước ngày 28 hàng tháng. Sau đó bên bán sẽ xuất hóa đơn và gửi cho bên mua trước ngày 10 tây.
Theo các đơn đặt hàng của Công ty S, hóa đơn giá trị gia tăng số 32 ngày 27/5/2023 và số 48 ngày 28/6/2023 do Công ty J xuất cho Công ty S và bản đối chiếu công nợ có xác nhận của Công ty S thì tổng giá trị hàng hóa Công ty J đã bán cho Công ty S là 1.495.339.120 đồng nhưng Công ty S chưa thanh toán cho Công ty J theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán được ký kết giữa 02 Công ty ngày 26/4/2023.
[2.3]. Theo Điều 50 của Luật Thương mại quy định: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật”.
Do đó, Công ty J yêu cầu Công ty TNHH S thanh toán cho Công ty TNHH J số tiền hàng hóa còn nợ là 1.495.339.120 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.4]. Từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/5/2023, Công ty J đã giao hàng cho Công ty S theo các đơn đặt hàng có tổng trị giá là 1.205.079.920 đồng. Ngày 27/5/2023, Công ty J đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 32 cho Công ty S để xác nhận số tiền Công ty S phải thanh toán cho Công ty J là 1.205.079.920 đồng. Như vậy, theo thỏa thuận Công ty S có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên cho Công ty J vào ngày 25/6/2023 (30 ngày kể từ ngày chốt số 25/5/2023).
Trong tháng 6 năm 2023, Công ty J đã giao hàng cho Công ty S với tổng giá trị hàng hóa là 290.259.200 đồng; đồng thời Công ty J đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 48 ngày 28/6/2023 cho Công ty S. Như vậy, theo thỏa thuận Công ty S có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên cho Công ty J vào ngày 25/7/2023 (30 ngày kể từ ngày chốt số 25/6/2023).
[2.5]. Theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung
bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Mặt khác, theo Điều 468 của Bộ luật Dân sự quy định: Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo hợp đồng mua bán số 011/2023 ngày 26/4/2023 được ký kết giữa Công ty J và Công ty S, trong trường hợp bên mua chậm thanh toán mà không có sự đồng ý của bên bán thì bên mua phải thanh toán tiền lãi cho bên bán theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng N trên tổng số tiền chậm thanh toán.
Theo biên bản xác minh mức lãi xuất quá hạn bình quân của 03 ngân hàng thương mại cũng như mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng N (mức lãi suất cho vay trong hạn 9%/năm) cũng cao hơn mức lãi suất 1,083%/tháng (13%/năm) theo yêu cầu của Công ty J. Do đó, Công ty TNHH S phải có trách nhiệm trả tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 1.205.079.920 đồng tính từ ngày 25/6/2023 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 13%/năm (tương ứng với 1,083%/tháng) tương ứng với số tiền 135.295.527 đồng (10 tháng 11 ngày x 1.205.079.920 đồng x 1,083%/tháng) và tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 290.259.200 đồng tính từ ngày 25/7/2023 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 13%/năm (tương ứng với 1,083%/tháng) tương ứng với số tiền 29.444.183 đồng (09 tháng 11 ngày x 290.259.200 đồng x 1,083%/tháng) là phù hợp quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận
[2.6]. Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty J về việc yêu cầu bị đơn Công ty S có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc 1.495.339.120 đồng và tiền lãi 164.739.710 đồng cho Công ty J.
[2.7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.
[ 2.8] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 50 và 306 của Luật Thương mại.
- - Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH J đối với Công ty TNHH S về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Buộc Công ty TNHH S có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH J số tiền nợ gốc 1.495.339.120 đồng (một tỷ bốn trăm chín mươi lăm triệu ba trăm ba mươi chín nghìn một trăm hai mươi đồng) và tiền lãi 164.739.710 đồng (một trăm sáu mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm mười đồng) tiền lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2. Về án phí sơ thẩm: Công ty TNHH S phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 61.802.364 đồng.
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH J số tiền 30.326277 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0001085 ngày 03/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA Huỳnh Ngọc K |
Bản án số 14/2024/KDTM-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 14/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH J - Công ty TNHH S
