Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 06/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Dương Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Minh Tâm, bà Nguyễn Thị Hòa;
- Thư ký phiên toà: bà Vũ Thị Thu Hoàng - Thư ký toà án nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Đỗ Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy K; sinh ngày: 15 tháng 6 năm 1987, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu C, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quang K, sinh năm 1962 và bà: Đỗ Thị S, sinh năm 1963; có vợ: Mai Thị Ánh N, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 21/8/2012, bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong bản án ngày 30/8/2013; ngày 05/06/2020, bị Tòa án nhân dân huyện V xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 06/02/2021; bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V; có mặt.

- Người chứng kiến: ông Phạm Văn P, anh Trần Quang K, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 05 phút, ngày 18/12/2023, tại khu C, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Công an thị trấn C, huyện V phối hợp với Công an huyện V kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay bên phải của Nguyễn Duy K 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng được gấp thành hình chữ nhật bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục, K khai là ma túy K tàng trữ để sử dụng; ngoài ra còn thu giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia phím bấm, màu đen, gắn SIM số: 0973.841.629, đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát (BKS) 14S1-105.14, đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 1800/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng gói trong 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng của Nguyễn Duy K gửi giám định là ma túy, loại methamphetamine, khối lượng là 0,17 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Duy K khai nhận: khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023, K một mình điều khiển xe mô tô BKS 14S1-105.14 đi từ nhà của K ở khu C, thị trấn C, huyện V đến nhà một người tên là T (là bạn bè quen biết với Kh) ở khu B, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh để hỏi mua ma túy đá. Đến nơi, K gọi T ra cửa và hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì T đồng ý, K hẹn T khoảng 13 giờ cùng ngày sẽ đến lấy ma túy và trả tiền. Sau đó, K đi về nhà, đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, K một mình điều khiển xe máy trên đi đến nhà của T để mua ma túy đá như đã thỏa thuận từ trước. Khi K đến nhà T, T đi ra đưa K 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng được gấp thành hình chữ nhật bên trong có chứa ma túy đá, K đưa lại cho T 01 tờ tiền mệnh giá là 200.000 đồng, rồi cầm ma túy đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, K lấy số ma túy mua được cầm trong lòng bàn tay phải và điều khiển xe máy đi tìm nơi để sử dụng, khi đi đến đoạn đường thuộc khu C, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, thì K bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng được gấp thành hình chữ nhật bên trong có chứa ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia phím bấm, màu đen, gắn SIM số: 0973.841.629 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát (BKS) 14S1-105.14.

Người chứng kiến, ông Phạm Văn P và anh Trần Quang K đều có lời khai: khoảng 15 giờ ngày 18/12/2023, ông P và anh K được chứng kiến Công an huyện V kiểm tra và bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, người đó khai nhận tên là Nguyễn Duy K, sinh năm 1987, trú tại khu C, thị trấn C, huyện V, Công an phát hiện thu giữ tại bàn tay phải của Nguyễn Duy K một tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng, được gấp thành hình chữ nhật, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục, Nguyễn Duy K khai nhận là ma túy, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng.

Anh Nguyễn Văn T có lời khai: anh T và K là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội, không có họ hàng và mâu thuẫn gì. Ngày 18/12/2023, anh T không được bán ma túy cho Nguyễn Duy K và từ trước đến nay anh T chưa từng sử dụng ma túy và không tàng trữ, mua bán ma túy cho bất kỳ ai.

Cáo trạng số 60/CT-VKSVĐ ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Bị cáo Khánh từ 15 đến 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, ngày 18/12/2023; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam Methamphetamine và tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.000 đồng tiền Việt Nam mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong phong bì niêm phong số 1800/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, kèm 01 sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 14S1-105.14 cho bị cáo Nguyễn Duy K. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Bị cáo Nguyễn Duy K không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tới mức thấp nhất để bị cáo sớm cải tạo về chăm sóc cho vợ và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Duy K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, kết luận giám định số 1800/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: hồi 15 giờ 05 phút ngày 18/12/2023, tại khu C, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Duy K có hành vi tàng trữ trái phép 0,17 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi phạm tội của bị cáo K đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma tuý và tính trái pháp luật của việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng thiếu tu dưỡng bản thân, vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân dẫn đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy và phạm tội, vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu đã 2 lần phạm tội tuy nhiên đã được xóa án tích, tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, bị cáo còn được khu phố xác nhận có bà ngoại là Phạm Thị H được thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và bị cáo là người lo kinh tế nuôi dưỡng chăm sóc bà đưa bà đi viện mỗi khi bà đau ốm cũng như tại Bản án số 12 ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện V đã nhận định bị cáo có ông, bà ngoại là Đỗ Văn Đ và Phạm Thị H là người có công với nhà nước được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, xét thấy, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với việc bị cáo Khánh khai mua ma túy của anh Nguyễn Văn T, quá trình điều tra anh T không thừa nhận việc bán ma túy cho K, không có các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh việc anh T bán ma túy cho K nên không đủ căn cứ xử lý đối với anh Nguyễn Văn T.

[3] Về xử lý vật chứng: 0,12 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy và 1.000 đồng tiền Việt Nam bị cáo Khánh dùng để gói ma túy đá nên cần sung quỹ nhà nước, bên trong phong bì niêm phong số 1800/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, kèm 01 sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 14S1-105.14, của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[4] Về án phí: bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Duy K 12 (mười hai) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày ngày 18/12/2023.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

  • + Tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam Methamphetamine và sung quỹ nhà nước 1.000 đồng tiền Việt nam bên trong phong bì niêm phong số 1800/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • + Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn SIM số: 0973.841.629, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 14S1-105.14 cho bị cáo Nguyễn Duy K.

(Tình trạng vật chứng tài sản thê hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 19/BB-CCTHADS ngày 03/4/2024,của Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Quảng Ninh).

- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND huyện V;
  • - CCTHADS huyện V;
  • - Bị cáo;
  • - CQCSĐT Công an H. V;
  • - CQTHAHS Công an H. V;
  • - Nhà tạm giữ Công an H. V
  • - Lưu HS. Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( đã ký)

Dương Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger