Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 02/7/2024

V/v Tranh chấp ly hôn,

chia tài sản sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hường

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Bà Hoàng Thị Thu Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Mai Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2024/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Uyên C, sinh năm 1972
  • Địa chỉ: Số C N, khu phố E, phường D, TP ., tỉnh Kiên Giang.

  • Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng P, sinh năm 1970
  • Địa chỉ: Số C N, khu phố E, phường D, TP ., tỉnh Kiên Giang

  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Bùi Hồng Đ, Văn phòng L và cộng sự thuộc đoàn luật sư tỉnh K.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Phòng C1 tỉnh Kiên Giang (nay là Văn phòng C2)
    2. Địa chỉ: Số B N, khu phố E, phường D, TP ., tỉnh Kiên Giang.

    3. Ủy ban nhân dân phường D, TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
    4. Địa chỉ: Số 10 Hùng Vương, khu phố 1, phường Dương Đông, TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

    5. Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1941
    6. Địa chỉ: Ấp B, xã C, TP ., tỉnh Kiên Giang.

  • Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đăng P.

( Bà C, ông P, LS Điệp có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Hồ Thị Uyên C trình bày: Năm 1998, bà và ông Nguyễn Đăng P tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) thị trấn D, huyện P (nay là phường D, thành phố P), tỉnh Kiên Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01, ngày 03/11/1998.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc, nhưng từ năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến với nhau trong cuộc sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không những vậy ông P còn chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình vợ con, vì thương các con bà cố gắng chịu đựng để gia đình hạnh phúc, bà đã nhiều lần khuyên ông P nhưng ông P không thay đổi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân thật sự tan vỡ, không thể nào hàn gắng với nhau được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà với ông P có 02 người con chung tên Nguyễn Lâm Phương U, sinh ngày 04/10/1999 và Nguyễn Lâm Phương K, sinh ngày 21/9/2004. Hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống, bà với ông P có tạo lập được khối tài sản chung gồm:

  1. Thửa đất có diện tích 234,1m², thửa 87, tờ bản đồ số 44, toạ lạc tại số C, đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng quyền sử dụng đất (viết tắt CNQSD đất) số BĐ 58971 do UBND huyện P (nay là UBND thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 18/3/2011 đứng tên ông Nguyễn Đăng P, bà Hồ Thị Uyên C. Trên đất có căn nhà kiên cố.
  2. Thửa đất có diện tích 2.999,7m², thửa 64, tờ bản đồ số 42, toạ lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đã tách thửa, hiện tại chỉ còn diện tích 611,7m², thửa 189, tờ bản đồ số 42, theo giấy chứng nhận QSD đất cấp ngày 14/02/2015 tên ông Nguyễn Đăng P.
  3. Thửa đất có diện tích 101m², thửa 85, tờ bản đồ số 56, toạ lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy CNQSD đất số BĐ 589120 do UBND huyện P (nay là UBND thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 28/3/2011.
  4. Thửa đất có diện tích 6.367,7m², thửa số 12, tờ bản đồ số 42, toạ lạc tại ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất).

Ngày 18/4/2014, bà với ông P có làm Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung được UBND thị trấn D (nay là UBND phường D) chứng thực ngày 26/4/2014. Theo văn bản thỏa thuận phân chia này thì bà được chia 02 thửa đất gồm: Thửa đất có diện tích 234,1m², toạ lạc tại số C, đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang và thửa đất có diện tích 2.999,7m², toạ lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Đã tách thửa, hiện tại chỉ còn diện tích 611,7m² theo giấy chứng nhận QSD đất cấp ngày 14/02/2015 tên ông Nguyễn Đăng P).

Ông P được chia 02 thửa đất gồm: Thửa đất có diện tích 101m², toạ lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang và thửa đất có diện tích 6.367,7m², toạ lạc tại ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi chia xong, ngày 28/4/2014 bà và ông P lập thêm hợp đồng tặng cho đối với thửa đất số 87, tờ bản đồ số 44, diện tích 234,1m², tọa lạc tại số C đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Kiên Giang (nay là Văn phòng C2) để bà làm thủ tục sang tên theo quy định pháp luật.

Cuối năm 2014, ông P bán hết phần tài sản mà ông P được chia và cầm cố luôn phần tài sản của bà được chia. Hiện tại bà chỉ còn diện tích đất 234,1m², toạ lạc tại số C đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Trên đất có căn nhà kiên cố hiện tại mẹ con bà đang ở.

Về tài sản bà yêu cầu công nhận văn bản thoả thuận phân chia tài sản giữa bà với ông P được UBND thị trấn D (nay là UBND phường D) chứng thực ngày 26/4/2014; Công nhận hợp đồng tặng cho QSD đất giữa bà với ông P được Phòng công chứng số 2 tỉnh C1 (nay là Văn phòng C2) công chứng ngày 28/4/2014; Công nhận QSD đất diện tích 234,1m² (đo đạc thực tế 227,9m²), số toạ lạc tại số C đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, trên đất có căn nhà cấp 4 cho bà được toàn quyền sử dụng đề bà làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.

Đối với phần đất diện tích 2.999,7m², thửa số 64, tờ bản đồ số 42, toạ lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Đã tách thửa, hiện tại chỉ còn diện tích 611,7m², thửa 189, tờ bản đồ số 42, theo giấy chứng nhận QSD đất cấp ngày 14/02/2015 tên ông Nguyễn Đăng P) đã được chia cho bà thì bà không yêu cầu công nhận diện tích đất này cho bà mà bà tự nguyện cho ông P, vì hiện tại ông H là ba ruột của ông P đang ở trên đất.

Về nợ chung: Bà cam kết không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Đăng P1 yêu cầu phản tố trình bày:

Về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và mâu thuẫn gia đình như bà C trình bày là hoàn toàn đúng. Việc bà C yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Lâm Phương U, sinh ngày 04/10/1999 và Nguyễn Lâm Phương K, sinh ngày 21/9/2004. Hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông với bà C có tài sản chung gồm 04 thửa đất như bà C trình bày. Ngày 18/4/2014, ông với bà C có làm văn bản thỏa thuận phân chia tài sản được UBND thị trấn D chứng thực ngày 26/4/2014. Theo văn bản phân chia thì ông được chia 02 thửa đất diện tích 101m², toạ lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang và thửa đất có diện tích 6.367,7m², toạ lạc tại ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Bà C được chia 02 thửa đất diện tích 234,1m², toạ lạc tại số C đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang và thửa đất có diện tích 2.999,7m², toạ lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Đã tách thửa, hiện tại chỉ còn diện tích 611,7m²). Lý do phân chia tài sản vì vợ chồng không muốn ly hôn, nhưng do ông có thiếu nợ riêng muốn bán tài sản để trả nợ nên vợ chồng mới phân chia tài sản để ông bán trả nợ riêng.

Sau khi thoả thuận phân chia ông đã bán cả 02 tài sản ông được chia là diện tích 101m², toạ lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang với giá khoảng 100.000.000 đồng, số tiền này ông trả nợ riêng; Diện tích 6.367,7m², toạ lạc tại ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (chưa được cấp giấy), bán với giá khoảng 1.600.000.000 đồng, số tiền này ông phụ với bà C sửa nhà khoảng 100.000.000 đồng và mua sắm đồ dùng trong nhà khoảng 100.000.000 đồng, số tiền còn lại ông trả nợ riêng. Còn diện tích đất 611,7 tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, đã thỏa thuận chia cho bà C, hiện tại ông H (ba ruột ông đang ở) ông đã lấy giấy cầm cố cho ông S 1.500.000.000 đồng để sử dụng riêng.

Ngày 10/4/2017, ông yêu cầu phản tố: Huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng tặng cho ngày 28/4/2014 tại Phòng C1 tỉnh Kiên Giang (nay là Văn phòng C2); Yêu cầu chia đôi diện tích đất 234,1m², thửa 87, tờ bản đồ số 44, toạ lạc tại khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, trên đất có căn hà cấp 4 và 6 phòng trọ ông đồng ý giao hiện vật cho bà C, bà C có nghĩa vụ giao 50% theo định giá; Yêu cầu chia đôi diện tích đất 600m² tại ấp B, xã C, thành phố P, ông nhận hiện vật, ông có nghĩa vụ giao 50% diện tích đất cho bà C theo định giá; Yêu cầu chia đôi diện tích đất 2.000m² tại ấp B, xã C, thành phố P nếu bà C nhận hiện vật thì có nghĩa vụ giao 50% diện tích tích đất tại thời điểm mua.

Ngày 07/8/2019, ông yêu cầu bổ sung: Hủy bỏ toàn bộ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 18/4/2014 giữa ông và bà C được UBND thị trấn D chứng thực ngày 26/4/2014.

Quá trình giải quyết vụ án ông P đã rút một phần yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa, ông xác định lại yêu cầu phản tố như sau:

  • Yêu cầu hủy toàn bộ hợp đồng tặng cho ngày 28/4/2014 tại Văn phòng C3, tỉnh Kiên Giang.
  • Yêu cầu hủy toàn bộ văn bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 18/4/2014 giữa ông với bà C được UBND thị trấn D chứng thực ngày 26/4/2014.
  • Yêu cầu chia đôi diện tích đất 234,1m² (đo đạc thực tế 227,9m²) và căn nhà trên đất tọa lạc tại số C N, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ông yêu cầu được nhận giá trị.

Những yêu cầu phản tố khác, ông xin rút lại.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 09/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Hồ Thị Uyên C với bị đơn ông Nguyễn Đăng P.
  2. Về con chung: Nguyễn Lâm Phương U, sinh ngày 04/10/1999 và Nguyễn Lâm Phương K, sinh ngày 21/9/2004. Hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
  3. Về tài sản chung:
    • Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đăng P về việc xin rút yêu cầu chia đôi diện tích đất 600m² và diện tích đất 2.000m², đều tọa lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
    • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn bà Hồ Thị Uyên C đối với bị đơn ông Nguyễn Đăng P về việc tranh chấp tài sản khi ly hôn.
    • Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đăng P đối với nguyên đơn bà Hồ Thị Uyên C về việc chia tài sản chung của vợ chồng.
    • Công nhận văn bản thoả thuận phân chia tài sản giữa bà Hồ Thị Uyên C với ông Nguyễn Đằng P2 được UBND thị trấn D (nay là UBND phường D) chứng thực ngày 26/4/2014.
    • Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 234,1m² (đo đạc thực tế 227,9m²), thửa số 87, tờ bản đồ số 44 (trên đất có căn nhà cấp 4), toạ lạc tại số C đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang giữa ông Nguyễn Đăng P và bà Hồ Thị Uyên C được Phòng C1 tỉnh Kiên Giang (nay là Văn phòng C2) công chứng ngày 28/4/2014.
    • Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 234,1m² (đo đạc thực tế 227,9m²), thửa 87, tờ bản đồ số 44, trên đất có căn nhà cấp 4, toạ lạc tại số C đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 589071 do UBND huyện P (nay là UBND thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 18/3/2011 do ông Nguyễn Đăng P và bà Hồ Thị Uyên C đứng tên cho bà Hồ Thị Uyên C được quyền sử dụng.
    • Thửa đất được thể hiện tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc), tỉnh Kiên Giang và Sơ đồ trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp số 304/2018, ngày 05/6/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. (Kèm theo).
    • Bà C có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Hồ Thị Uyên C đồng ý giao diện tích đất 611,7m², thuộc thửa số 189, tờ bản đồ số 42, đất tọa lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 959560, cấp ngày 14/02/2015 tên ông Nguyễn Đăng P cho ông Nguyễn Đăng P được quyền sử dụng.
    • Thửa đất được thể hiện tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc), tỉnh Kiên Giang và Sơ đồ trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp số 612/2018, ngày 05/6/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. (Kèm theo).
  4. Về công nợ chung: Bà Hồ Thị Uyên C và ông Nguyễn Đăng P xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về chi phí đo đạc và định giá: Ông Nguyễn Đăng P phải chịu chi phí đo đạc và định giá tổng cộng số tiền 45.559.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm năm mươi chín nghìn đồng). Ông P đã nộp xong.
  6. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hồ Thị Uyên C phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003820 ngày 03/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Quốc (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí khởi kiện bổ sung cho bà Hồ Thị Uyên C số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004238 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Ông Nguyễn Đăng P phải chịu án phí là 600.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp là 15.960.000 đồng theo biên lai thu số 0003880 ngày 24/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Quốc (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Ông P được hoàn trả số tiền 15.360.000 đồng (Mười lăm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
  7. Về án phí phúc thẩm: Ông P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp theo biên lai thu số 0000040 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Hường

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND TP. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS TP. Phú Quốc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Bùi Như Y và ông Châu Thanh V ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger