Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/KDTM-ST

Ngày 03 tháng 5 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Long.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang T - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 80/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2024/QĐST- KDTM ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N3.

Địa chỉ: B - B C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản - Ngân hàng TMCP N3 (Theo Giấy ủy quyền số 1021/2023/UQQT-NHNA ngày 01/8/2023).

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Hoàng Trọng T1 - Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty kiêm Giám đốc chi nhánh Thành phố H (Theo Giấy ủy quyền số 588M/2023/UQ-AMC ngày 01/8/2023).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Trọng T1:

  1. Ông Nguyễn Văn T2 - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. (Có mặt)
  2. Ông Đỗ Quốc D - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.
  3. Ông Lưu Thanh N - Chức vụ: Phó phòng xử lý nợ.

Cùng địa chỉ: Lầu F, A A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 677/2023/UQ-AMC)

Bị đơn: Công ty TNHH T4. (Vắng mặt)

Địa chỉ: A ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982 - Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt)

Địa chỉ: G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

(Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số doanh nghiệp: 0313141464, đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 07/4/2021).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Trần Xuân L, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy T3, sinh năm 1974. (Có mặt)

Địa chỉ: 148/21/28 đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền ngày 18/12/2023).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không hòa giải được, ông Nguyễn Văn T2 là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 13/12/2018, Công ty TNHH T4 (sau đây gọi tắt là Công ty T4) đã ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0478/2018/919-CV để vay tiền của Ngân hàng TMCP N3 (N4), cụ thể:

Theo Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0478/2018/919-CV ngày 13/12/2018: Số tiền vay: 30.000.000 000 đồng (Ba mươi tỷ đồng); Thời hạn vay: Tối đa không quá 12 tháng; Lãi suất: 9,9%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N3 quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Công ty đã đảm bảo cho khoản vay trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0242/2018/919 -BD ngày 13/12/2018: Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CI 839402, số vào sổ cấp GCN: CS 01850

do Sở T5 cấp ngày 18/12/2017, cụ thể: Thửa đất số 648; Tờ bản đồ số 17; Địa chỉ: xã T, huyện H, Tp .; Diện tích thế chấp: 8277 m²; Hình thức sử dụng: Riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn 378m²; Đất trồng cây hằng năm khác 7882m²: Đất trồng lúa nước còn lại: 17m²; Thời hạn sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn: Lâu dài; Đất trồng cây hằng năm khác; Đất trồng lúa nước còn lại: đến ngày 21/01/2065; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất 378m²; Nhận chuyển nhượng được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất 7899m² Chủ sử dụng/ sở hữu: ông Ngô Trần Xuân L.

Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty T4 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký kết. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để Công ty trả nợ, nhưng Công ty vẫn không thực hiện.

Dư nợ của Công ty T4 tại N4 tạm tính đến ngày 03/05/2024 như sau: Nợ gốc: 30.000.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 24.176.976.020 đồng; Tổng cộng : 54.176.976.020 đồng.

Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, kế hoạch trả nợ cho Ngân hàng TMCP N3 của Công ty T4 đã vi phạm nghiêm trọng các điều khoản cam kết trong Hợp đồng tín dụng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP N3.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP N3 kính đề nghị Quý Tòa xem xét giải quyết các yêu cầu khời kiện đối với Công ty T4 như sau:

  1. Tuyên buộc Công ty T4 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N3 toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký, tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/05/2024 là: 54.176.976.020 đồng, trong đó: Nợ gốc: 30.000.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 24.176.976.020 đồng;
  2. Kể từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả hết nợ, Công ty T4 vẫn phải chịu tiền lãi phát sinh (lãi quá hạn, lãi chậm trả) theo mức lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký.
  3. Khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà Công ty TNHH T4 vẫn không trả nợ theo Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký thì Ngân hàng TMCP N3 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CI 839402, số vào sổ cấp GCN: CS 01850 do Sở T5 cấp ngày 18/12/2017 để thu hồi nợ theo đúng quy định trong Hợp đồng thế chấp tài sản cũng như quy định của pháp luật.
  4. Công ty T4 phải có nghĩa vụ thanh toán các chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định, trong đó có chi phí tố tụng mà Ngân hàng đã tạm ứng là 30.000.000 đồng theo Thông báo số 01/2023/TB-TA ngày 20/11/2023 và Biên nhận của TAND huyện Hóc Môn, Tp ..

Ngân hàng không đồng ý với ý kiến của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc sẽ thay mặt Công ty T4 trả số tiền 40.000.000.000 đồng vì ông L chưa có thiện chí thực hiện phương án trên. Nếu ông L có thiện chí đề nghị ông L mở tài khoản đảm bảo và gửi tiền vào Ngân hàng để chứng minh có đủ năng lực thực hiện việc trả nợ và có kế hoạch trả tiền nợ hợp lý, phù hợp Ngân hàng sẽ đồng ý với ý kiến của ông L.

2. Bị đơn Công ty TNHH T4 và bà Nguyễn Thị N1 là người đại diện theo pháp luật đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho nhưng đương sự vẫn vắng mặt không lý do.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Trần Xuân L có ông Nguyễn Huy T3 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Ngô Trần Xuân L có quen biết với bà Nguyễn Thị N1, Sinh năm 1982 - Chức vụ: Giám đốc; đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T4 từ năm 2012, do bà N1 có nhu cầu kinh doanh nhưng thiếu vốn nên có đề nghị ông Lâm g vì tin tưởng ông L có đồng ý cho mượn tài sản tại xã T huyện H thửa số 648 tờ bản đồ số 17 để vay số tiền 30.000.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP N3 chi nhánh H, Quận A, Tp .. Ông L có ký Hợp đồng thế chấp tài sản (Giấy chứng nhận quyền sửu dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) (để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác) ngày 13/12/2018.

Sau đó từ 2019, đến nay bà Nguyễn Thị N1 kinh doanh thua lỗ và không tất toán được số tiền vay tại Ngân hàng TMCP N3 và ông L cũng không liên lạc được với bà N1, với tình hình kinh tế chậm lại và dịch bệnh rồi lạm phát ai cũng khó khăn nên ông L mong Ngân hàng TMCP N3 tạo điều kiện cho ông L tất toán vì tài sản với số tiền là 40.000.000.000 đồng và lấy lại tài sản thế chấp. Nếu Ngân hàng đồng ý sẽ có thời hạn trả phù hợp, đề nghị Ngân hàng có văn bản trả lời ý kiến này của ông L.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

4.1. Về tố tụng:

Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015. Bị đơn Công ty TNHH T4 có trụ sở chính tại xã B, huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý, Toà án ban hành thông báo thụ lý, thông báo cho bị đơn và VKS đúng theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về việc tiến hành lập hồ sơ vụ án, hoà giải, gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử

đến VKS huyện H, tiến hành triệu tập và tống đạt các văn bản của Toà án đúng quy định.

Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu đúng theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án thụ lý vụ án ngày 18/10/2023, ngày 19/3/2024 ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015.

Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn, đại diện ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71, 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc ủy quyền được thực hiện bằng văn bản đúng quy định. Riêng bị đơn không đến Toà giải quyết vụ án cũng không có văn bản thể hiện ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72, 73 BLTTDS 2015.

4.2. Về nội dung:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định Công ty TNHH T4 (sau đây gọi tắt là Công ty T4) đã ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0478/2018/919-CV để vay tiền của Ngân hàng TMCP N3 (N5), cụ thể: Theo Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0478/2018/919-CV ngày 13/12/2018:Số tiền vay: 30.000.000 000 đồng (Ba mươi tỷ đồng); Thời hạn vay: Tối đa không quá 12 tháng; Lãi suất: 9,9%/năm, lãi suất sẽ do Ngân hàng N3 quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Công ty đã đảm bảo cho khoản vay trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0242/2018/919 -BD ngày 13/12/2018: Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CI 839402, số vào sổ cấp GCN: CS 01850 do Sở T5 cấp ngày 18/12/2017; Chủ sử dụng/ sở hữu: ông Ngô Trần Xuân L. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH T4 số tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng. Theo nguyên đơn thì trong thời gian thực hiện hợp đồng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ; bị đơn đã thanh toán được tổng số tiền 1.275.748.351 đồng tiền lãi, sau đó không tiếp tục thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày đến ngày 03/05/2024 là: 54.176.976.020 đồng, trong đó: Nợ gốc: 30.000.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 24.176.976.020 đồng;

Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn đã nhận được thông báo của Tòa án nhưng cũng không đến Tòa, cũng không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi của mình nên căn cứ khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015, tài liệu do nguyên đơn cung cấp và lời khai

của nguyên đơn là căn cứ để chứng minh. Tài liệu do nguyên đơn cung cấp chứng minh bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của mình theo thoả thuận trong hợp đồng nên căn cứ Điều 299, Điều 466 BLDS năm 2015 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 là chủ thể có đăng ký kinh doanh ký kết Hợp đồng tín dụng với Công ty TNHH T4 là chủ thể có đăng ký kinh doanh với nội dung cho Công ty TNHH T4 vay tiền để bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh – thanh toán tiền hàng theo hợp đồng kinh tế Công ty TNHH T4 phải trả tiền lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 nên mục đích của các bên đều nhằm mục đích lợi nhuận. Do đó, đây là quan hệ tranh chấp về kinh doanh thương mại đối với hợp đồng tín dụng bị đơn Công ty TNHH T4 có trụ sở tại A ấp T, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, hiện chưa đăng ký giải thể nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Công ty TNHH T4 và bà Nguyễn Thị N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng các đương sự vắng mặt không đến Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để giải quyết vụ án không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3: Nhận thấy Công ty TNHH T4 đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 các thỏa thuận tín dụng gồm:

  • Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0478/2018/919-CV ngày 13/12/2018; Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0478/2018/919-CV ngày 13/12/2018;
  • Hợp đồng thế chấp tài sản số 0242/2018/919 -BD ngày 13/12/2018.

Các hợp đồng nêu trên được giao kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 116, Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH T4 có người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị N1 không đến Toà để giải quyết vụ án, không đưa ra thời gian hợp lý và cụ thể để giải quyết các khoản nợ nên điều này chứng tỏ Công ty TNHH T4 không có thiện chí, không tích cực khắc phục hậu quả, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của Ngân hàng Thương mại cổ phần N3, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tiền.

Công ty TNHH T4 không cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác, ông Ngô Trần Xuân L có trình bày ý kiến, nhưng không nộp đơn thể hiện yêu cầu cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh có sự liên quan giữa nội dung ông trình bày và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 và Công ty TNHH T4 nên căn cứ Khoản 1 Điều 5 Luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử sẽ xem xét toàn bộ lời khai cùng các chứng cứ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 cung cấp làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Chứng từ thể hiện bên cho vay đã giải ngân chuyển tiền cho bên vay theo Hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ đã ký, bên vay đã nhận đủ tiền gốc đã trả cho bên cho vay số tiền lãi tổng cộng là: 1.275.748.351 đồng từ ngày 14/01/2019 đến ngày 26/9/2020. Nên giao dịch và hợp đồng tín dụng giữa các đương sự là có thật do đó Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 về việc buộc Công ty TNHH T4 phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ tạm tính đến ngày 03/5/2024 là: 54.176.976.020 đồng.

Đối với yêu cầu về việc tính tiền lãi, phí phát sinh của Ngân hàng Thương mại cổ phần N3, do các bên tự thỏa thuận về mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, yêu cầu tính lãi này của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 được chấp nhận.

Công ty TNHH T4 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí khác phát sinh (nếu có) của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH T4 phải tiếp tục trả cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần N3.

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 được chấp nhận nên Công ty TNHH T4 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng.

[4] Về phần tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của Ngân hàng:

Tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Ngô Trần Xuân L được thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo cho khoản vay cho Công ty TNHH T4 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N3: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 648, tờ bản đồ số 17, thuộc xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CI 839402, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01850 do Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 18/12/2017. Ông Ngô Trần Xuân L được cập nhật nhận chuyển nhượng ngày 13/12/2018.

Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) (để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác) số 0242/2018/919-BĐ ngày 13/12/2018, được Phòng C, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số 015018, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H ngày 14/12/2018.

Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật, thể hiện điều khoản cuối cùng các bên đã đọc kỹ hợp đồng, hiểu rõ nội dung giao kết và đồng ý các điều khoản, ông L xác định có ký các hợp đồng nêu trên, nên Hội đồng xét xử xác định điều này là sự thật không cần phải chứng minh.

Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật, thể hiện điều khoản cuối cùng các bên đã đọc kỹ hợp đồng, hiểu rõ nội dung giao kết và đồng ý các điều khoản trong hợp đồng, ông Ngô Trần Xuân L xác định có ký hợp đồng thế chấp nên trường hợp Công ty TNHH T4 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp nêu trên được dùng đảm bảo để thi hành án cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.

[5] Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 được chấp nhận nên Công ty TNHH T4 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là phù hợp nên ghi nhận.

[7] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, , Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005;

- Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 299, Điều 317, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N3.

[2] Buộc Công ty TNHH T4 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0478/2018/919-CV ngày 13/12/2018; Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0478/2018/919-CV ngày 13/12/2018 đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần N3.

Số tiền tạm tính đến thời điểm xét xử ngày 03/5/2024 là 54.176.976.020 đồng. Trong đó N2 gốc 30.000.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 24.176.976.020 đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 04/5/2024, Công ty TNHH T4 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí khác phát sinh (nếu có) của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH T4 phải tiếp tục trả cho Ngân hàng theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần N3.

[3] Công ty TNHH T4 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 chi phí tố tụng, xem xét, thẩm định tại chỗ là 30.000.000 đồng.

[4] Sau khi Công ty TNHH T4 trả hết các khoản tiền nêu trên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty TNHH T4, ông Ngô Trần Xuân L:

Bản chính các Giấy chứng nhận và giấy tờ khác (nếu có) theo phiếu nhập kho kiêm xuất kho tài sản thế chấp đã ký giữa Công ty TNHH T4 với Ngân hàng Thương mại cổ phần N3.

Đồng thời tiến hành thủ tục xóa thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

[5] Trong trường hợp Công ty TNHH T4 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ đối với:

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 648, tờ bản đồ số 17, thuộc xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CI 839402, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01850 do Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 18/12/2017. Ông Ngô Trần Xuân L được cập nhật nhận chuyển nhượng ngày 13/12/2018.

[6] Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm Công ty TNHH T4 phải chịu là 162.176.976 đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 79.341.037 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0017303 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

[7] Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[8] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND H. Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS H. Hóc Môn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trịnh Hồng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/KDTM-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 14/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N3 Buộc công ty TNHH T4 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N3 toàn bộ số tiền còn nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger