Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-PT

Ngày 03 - 01- 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bằng.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hằng.

Bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Tài, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 279/2023/TLPT-HS ngày 28/11/2023 đối với bị cáo Sùng Mí P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2023/HSST, ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Sùng Mí P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1989, tại tỉnh Hà Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông: Sùng Nỏ C (đã chết); Con bà: Sình Thị M, hiện trú tại xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Bị cáo có vợ là Tráng Thị C1, sinh năm 1992, hiện cư trú tại xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 14/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sùng Mí P là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 23/6/2023, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm sát 47K1- 249.75 đi từ xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đến thôn 14, xã C, huyện E để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, P đi đến thôn 14, xã C, huyện E. Tại đây P gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), P hỏi mua 4.000.000đ tiền ma túy thì người đàn ông này đồng ý và cầm tiền rồi bảo P đứng đợi. Sau đó người đàn ông này rời đi, khoảng 20 phút sau thì quay lại đưa cho P 01 gói nylon màu vàng bên trong có chứa chất rắn màu trắng, P cầm gói nylon biết bên trong là ma túy, loại heroine. Sau khi mua được ma túy Phùa cất giấu gói ma túy vào trong người mình rồi điều khiển xe mô tô đi. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày khi P đi đến đoạn đường thuộc thôn 14, xã C, huyện E thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E phát hiện bắt quả tang, thu giữ đồ vật và tài sản liên quan.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2023/HSST ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Sùng Mí P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Sùng Mí P: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang ngày 23/6/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 20/10/2023, bị cáo Sùng Mí P có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Sùng Mí P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nhận định, cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Sùng Mí P 02 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Sùng Mí P: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại thôn 14, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E bắt quả tang Sùng Mí P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 3,2895 gam ma túy, loại heroine, mục đích để sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Sùng Mí P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi Đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, mức hình phạt 02 năm 09 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Sùng Mí P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sùng Mí P.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2023/HSST, ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Sùng Mí P: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/6/2023.

[3] Về án phí: Bị cáo Sùng Mí P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện E;
  • - VKSND huyện E;
  • - Công an huyện E;
  • - Chi cục THADS huyện E;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-PT ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sùng Mí P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2023/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger