Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 01 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đào Việt Khái.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 01/01/2000, tại tỉnh Cà Mau; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh C; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Trịnh Thị N; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 05 phút, ngày 26 tháng 3 năm 2024, Công an huyện Phú Tân phát hiện Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô chở anh Nguyễn Văn V đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T có nhiều nghi vấn nên tiến hành kiểm tra trên người Nguyễn Đức T. Qua kiểm tra phát hiện bị cáo Thịnh cất giấu 01 đoạn ống nhựa màu trắng đục được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) nên đã tiến hành niêm phong thu giữ. Qua làm việc Nguyễn Đức T thừa nhận do nghiện ma túy nên mua ma túy về để sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: Bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2018 cho đến nay. Để có ma túy sử dụng, nên bị cáo đã mua ma túy của một thanh niên không biết tên và địa chỉ về cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho cá nhân, không có bán ma túy cho ai khác. Ngày 26/3/2024, bị cáo cất giấu ma túy trong người thì bị lực lượng tổ công tác Công an huyện Phú Tân khám xét và bắt quả tang. Trong suốt quá trình điều tra thì bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi. Bị cáo khai nhận cáo trạng Viện kiểm sát tống đạt cho bị cáo và cáo trạng công bố tại phiên tòa là đúng với hành vi thực hiện của bị cáo. Bị cáo bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là không oan ức cho bị cáo, thừa nhận có lỗi nghiêm trọng vì đã vi phạm pháp luật hình sự. Từ khi bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay thì bị cáo đã ăn năn hối cải, xin được nhận sự khoan hồng của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 168/KL-KTHS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa (dạng ống hút) màu trắng đục được hàn kín hai đầu, được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1896 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa trong phần tranh luận, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một phong bì hoàn mẫu số 168/KL-KTHS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau; 01 cái ví màu đen của Nguyễn Đức T. Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện tại do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân quản lý. Đối với chiếc xe mô tô hiệu Exiter, biển số đăng ký 69K1-389.87 đây là xe của anh Nguyễn Văn V nên Cơ quan Điều tra Công an huyện Phú Tân đã trả lại cho anh V là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, đánh giá chứng cứ, chứng minh phù hợp với quy định của pháp luật trong quá trình điều tra cũng như quá trình truy tố đủ điều kiện để đưa ra xét xử đối với bị cáo.

[3] Qua đó, xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với thực tế xảy ra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, phù hợp vật chứng thu giữ, bản ảnh tang vật, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Do đó, lời khai của bị cáo như trên là có căn cứ chấp nhận.

Xét hành vi bị cáo cho thấy: Động cơ bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ chất Methamphetamine với khối lượng 0,1896 gam là xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đã đủ tuổi luật định, quá trình hoạt động nhận thức của bị cáo đang diễn ra bình thường, bị cáo đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự. Qua phân tích và nhận định như trên, xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi của bị cáo là có căn cứ và Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh của Điều luật quy định.

Xét tính chất và mức độ hậu quả hành vi cho thấy, bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ra dư luận xấu trong xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, Methamphetamine là chất bị cấm tàng trữ và sử dụng. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ tác hại của ma túy, là làm nguy hại đến sức khỏe, đời sống bình thường của con người, làm suy thoái nòi giống, gián tiếp gây ra các tệ nạn, các tội phạm khác trong xã hội, có thể dẫn đến các bệnh xã hội, nhất là căn bệnh thế kỷ mà cả thế giới đang chung tay cứu chữa. Bị cáo là thanh niên, là thế hệ của tương lai. Lẽ ra, bị cáo phải có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Ngược lại, vì sự đua đòi, ham muốn tầm thường, dẫn đến sự lầm đường lạc lối và cuối cùng là bị cáo phạm tội. Hậu quả xảy ra như trên là thể hiện ý chí mong muốn của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm nghiêm trọng cho xã hội. Nay cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Từ đó, có điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Qua đó cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm cho xã hội.

[4] Xét nhân thân, bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2020 đi cai nghiên bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Do đó, xét cho bị cáo được nhận sự khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 của Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Đối với người bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được lý lịch và địa chỉ, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[6] Xét thấy Kiểm sát viên đề nghị xử lý về hình phạt đối với bị cáo như trên là phù hợp với tính chất hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.

[7] Đối với vật chứng vụ án theo quan điểm đề nghị xử lý của Kiểm sát viên như trên là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các điểm a, c Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  3. Hình Phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành phạt tính từ ngày 27/3/2024.
  4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì hoàn mẫu số 168/KL-KTHS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau; được niêm phong kín, có chữ ký và ghi họ tên Dương Hải Đăng (Giám định viên); có chữ ký và ghi họ tên Đỗ Phương Nam (người niêm phong) và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau. Bên trong gồm: Phong bì hình chữ nhật, đoạn ống nhựa (dạng ống hút) màu trắng đục, dùng để chứa tinh thể màu tráng.
    • + 01 cái ví màu đen.

    Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2024.

  5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Nguyễn Đức T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV & THA (TAND tỉnh Cà Mau);
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau (khi có hiệu lực);
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân (khi có hiệu lực);
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - CAND huyện Phú Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Ngọc Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger