|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI Bản án số 14/2025/HSST Ngày 14/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt
Bà Trần Bích Thủy
Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Lê Thị Thanh H, sinh năm 1981; HKTT và chỗ ở: Số B, TDP9, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Lê Thanh N, sinh năm 1945 và bà: Vũ Thị T, sinh năm 1949; chồng: Khuất Hữu Q, sinh năm 1982; con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/7/2024 đến 05/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt;
- Hồ Thị H1, sinh năm 1972; HKTT và chỗ ở: Số F TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Hồ Xuân M, sinh năm 1943 và bà: Lê Thị B (đã chết); chồng: Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1970; con: có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt;
- Người có nghĩa vụ, liên quan:
- Ông Phan Nguyễn S, sinh năm 1976; HKTT: Thôn C, xã C, huyện B, TP .; Chỗ ở: Số E N, phường C, quận N, TP . “có đơn xin xét xử vắng mặt”
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982; HKTT và chỗ ở: Thôn P, Thị trấn P, huyện Đ, TP . “có mặt”
- Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1983; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã K, huyện H, TP. “có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty Cổ phần X1, MST 0101569794, địa chỉ trụ sở là điểm Công nghiệp P, phường P, thị xã S do anh Phan Nguyễn S – sinh 1976, HKTT Thôn C, xã C, huyện B, chỗ ở : số E N, phường C, quận N, Hà Nội, làm giám đốc. Công ty ký hợp đồng và bổ nhiệm Lê Thị Thanh H – sinh năm 1981 ở tổ dân phố I phường T, thị xã S là kế toán trưởng. Công ty Cổ phần X1 hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực buôn bán sắt thép và gia công cơ khí, mặt hàng chính là thép ống hộp và thép hình. Do không thường xuyên có mặt ở Công ty, nên anh Phan Nguyễn S thường ký sẵn séc, giấy rút tiền và giao cho H quản lý, sử dụng để thuận lợi cho việc giao dịch rút tiền ở tài khoản của Công ty X1.
Trong thời gian làm việc tại Công ty X1, từ tháng 5/2022 đến tháng 01/2024 Lê Thị Thanh H đã xuất khống (bán trái phép) 13 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử, đã hoàn thiện nội dung) của Công ty X1 cho 03 Công ty để thu lời bất chính, cụ thể :
1. Công ty TNHH X2 (gọi tắt là Công ty X2), MST: 0109981689, địa chỉ trụ sở: Số F phố C, TDP T, phường T, quận B, TP Hà Nội.
Công ty X2 hoạt động trong lĩnh vực cho thuê giàn giáo xây dựng do Hồ Thị H1, sinh năm 1972; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số F, TDP T, phường T, quận B, TP Hà Nội là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc), trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động.
Quá trình hoạt động, Công ty X2 ký hợp đồng, mua hàng hóa là thép hộp của Công ty X1; ngoài ra còn mua hàng hóa của một số hộ kinh doanh khác nhưng không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt để phục vụ hoạt động kinh doanh. Hồ Thị H1 đã trao đổi, giao dịch với Lê Thị H mua hóa đơn GTGT của Công ty X1 để hợp thức, kê khai thuế đối với số hàng hóa dịch vụ (thép hộp) mà Công ty X2 đã mua của một số hộ kinh doanh khác nhưng không có hóa đơn GTGT. Sau đó, Lê Thị Thanh H đồng ý, xuất bán trái phép số lượng 06 hóa đơn GTGT trong đó có 01 hóa đơn không một phần; 05 hóa đơn không có hàng hóa dịch vụ của Công ty X1 cho Công ty X2 với chi phí là 3,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn. Gồm:
- Hóa đơn số 00000773 ngày 23/5/2022 giá trị tiền hàng trước thuế là 96.368.360 đồng trong đó giá trị hàng hóa dịch vụ mua thật là 54.700.360 đồng; giá trị hàng hóa dịch vụ mua khống là 41.668.000 đồng, chi phí phải trả để mua khống hàng hóa dịch vụ đối với hóa đơn GTGT này là 1.600.000 đồng (hai bên tự thỏa thuận và làm tròn số tiền thành toán được thể hiện trên tin nhắn);
- Hóa đơn số 00000893, ngày 15/5/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 460.167.198 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 460.167.198 đồng x 3,5% = 16.105.852 đồng;
- Hóa đơn số 00001171, ngày 16/6/2023 giá trị tiền hàng trước thuế là 1.092.802.920 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 1.092.802.920 đồng x 3,5% = 38.248.102 đồng;
2
- Hóa đơn số 00001456, ngày 14/7/2023 giá trị tiền hàng trước thuế là 1.000.175.736 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 1.000.175.736 đồng x 3,5% = 35.006.151 đồng;
- Hóa đơn số 00002186, ngày 02/10/2023 giá trị tiền hàng trước thuế là 489.216.906 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 489.216.906 đồng x 3,5% = 17.124.167 đồng;
- Hóa đơn số 00002415, ngày 20/10/2023 giá trị tiền hàng trước thuế là 931.101.021 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 931.101.021 đồng x 3,5% = 32.588.536 đồng.
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn Hồ Thị H1 sẽ cung cấp thông tin, số liệu cho Lê Thị Thanh H để soạn thảo hợp đồng, đưa biên bản giao nhận hàng hóa do chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1992 là kế toán của Công ty X1 ký; Lê Thị Thanh H là người đăng nhập tài khoản của Công ty X1 và thực hiện thao tác xuất khống hóa đơn. Sau khi, Công ty X2 thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số 21710001020392 là tài khoản của Công ty X2 mở tại Ngân hàng B1 – Chi nhánh T4 đến tài khoản số 8281100023006 là tài khoản của Công ty X1 mở tại Ngân hàng M1 – Chi nhánh S1 để hợp thức, thanh toán đối với hàng hóa dịch vụ trên 06 hóa đơn GTGT đã mua của Công ty X1. Lê Thị Thanh H sử dụng séc của Công ty X1 (séc đã ký sẵn) để rút tiền, giữ lại chi phí là tiền bán hóa đơn, tương ứng 3,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn rồi chỉ đạo chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981, là kế toán của Công ty X1 chuyển số tiền còn lại vào tài khoản của chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1986 ở Số E, phố C, TDP T, phường T, quận B, TP Hà Nội (là cháu gái của Hồ Thị H1) theo yêu cầu, đề nghị của Hồ Thị H1.
Sau đó, Hồ Thị H1 đã sử dụng 06 hóa đơn GTGT đã mua của Công ty X1 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào cho Công ty X2 vào các kỳ tính thuế tương ứng ghi trên hóa đơn.
Như vậy, việc bán trái phép số lượng 06 hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho Công ty X2 thì số tiền thu lợi bất chính của Lê Thị Thanh H là 140.672.807 đồng.
2. Công ty TNHH G (gọi tắt là Công ty G), MST: 0105180286, địa chỉ trụ sở: Thôn T, xã L, huyện Đ, TP Hà Nội.
Công ty G hoạt động trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng do anh Tô Văn D, sinh năm 1978; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã K, huyện H, TP Hà Nội là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc), trực tiếp thi công công trình; chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1983 (là vợ của anh Tô Văn D) làm kế toán, phụ trách việc mua hàng hóa dịch vụ.
Năm 2023, Công ty G mua vật liệu xây dựng là thép ống mạ kẽm, thép hình mạ kẽm của một số cá nhân nhưng không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt để thi công một số hạng mục công trình xây dựng. Để hợp thức đối với số vật liệu xây dựng trên, chị Nguyễn Thị Thanh L đã tìm hiểu, liên hệ và giao dịch với Lê Thị Thanh H để đặt vấn đề
3
mua hóa đơn GTGT. Qua trao đổi và thống nhất, Lê Thị Thanh H đồng ý bán trái phép số lượng 05 hóa đơn GTGT là hóa đơn điện tử, đã hoàn thiện nội dung của Công ty X1 cho Công ty G với chi phi 4% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn. Gồm:
- Hóa đơn số 00000730 ngày 24/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 489.341.260 đồng; chi phí mua, bán mua hóa đơn là 489.341.260 đồng x 4% = 19.573.650 đồng;
- Hóa đơn số 00001636 ngày 03/8/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 922.263.200 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 922.263.200 đồng x 4% = 36.890.528 đồng;
- Hóa đơn số 00001665 ngày 08/8/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 178.091.360 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 178.091.360 đồng x 4% = 7.123.654 đồng;
- Hóa đơn số 00002393 ngày 18/10/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 112.422.565 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 112.422.565 đồng x 4% = 4.496.903 đồng;
- Hóa đơn số 00000136 ngày 18/01/2024, giá trị tiền hàng trước thuế là 9.728.000 đồng; chi phí mua, bán hóa đơn là 9.728.000 đồng x 4% = 389.120 đồng.
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn chị Nguyễn Thị Thanh L sẽ cung cấp thông tin, số liệu cho Lê Thị Thanh H để soạn thảo hợp đồng, đưa biên bản giao nhận hàng hóa do chị Nguyễn Thị H2 (kế toán của Công ty X1) ký; Lê Thị Thanh H là người đăng nhập tài khoản của Công ty X1 và thực hiện thao tác xuất khống hóa đơn. Sau khi, Công ty G thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số 19026351189886 là tài khoản của Công ty G mở tại Ngân hàng T5 – Chi nhánh H4 đến tài khoản số 8281100023006 là tài khoản của Công ty X1 mở tại Ngân hàng M1 – Chi nhánh S1 để hợp thức, thanh toán đối với hàng hóa dịch vụ trên 04 hóa đơn GTGT có giá trị tiền hàng trên 20.000.000 đồng đã mua của Công ty X1. Lê Thị Thanh H tiếp tục sử dụng séc của Công ty X1 để rút tiền, giữ lại chi phí là tiền bán hóa đơn tương ứng 4% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn, rồi chỉ đạo chị Nguyễn Thị L1 chuyển số tiền còn lại vào tài khoản của chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã L, huyện Đ, TP Hà Nội (là bạn của chị Nguyễn Thị Thanh L). Đối với hóa đơn GTGT có giá trị tiền hàng thấp (số A, ngày 18/01/2024) chị Nguyễn Thị Thanh L thực hiện chuyển số tiền 450.000 đồng từ số tài khoản 19026379072021 là tài khoản của chị L mở tại Ngân hàng T5 – Chi nhánh H4 chuyển tiền đến tài khoản số 45110000116126 là tài khoản của Lê Thị Thanh H mở tại Ngân hàng B1 – Chi nhánh S1 theo yêu cầu của chị H.
Sau đó, chị Nguyễn Thị Thanh L đã sử dụng 05 hóa đơn GTGT đã mua của Công ty X1 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào cho Công ty G vào các kỳ tính thuế tương ứng ghi trên hóa đơn.
4
Như vậy, việc mua bán trái phép số lượng 05 hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho Công ty G thì số tiền thu lợi bất chính của Lê Thị Thanh H là 68.473.855 đồng.
3. Công ty TNHH S2 (gọi tắt là Công ty S2), MST: 0108586083, địa chỉ trụ sở: Số A ngõ A, đường N, phường N, quận L, TP Hà Nội.
Công ty S2 hoạt động trong lĩnh vực thi công công trình do anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Phòng 909 NC1, Chung cư L, phường L, quận H, TP Hà Nội; nơi ở hiện tại: P, Chung cư P, phường H, quận H, TP Hà Nội là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc) trực tiếp chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động.
Năm 2023, Công ty S2 mua vật liệu xây dựng là thép ống mạ kẽm, thép hình mạ kẽm của một số cá nhân nhưng không ký kết hợp đồng, không có hóa đơn chứng từ và thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt để thi công một số hạng mục công trình xây dựng. Để hợp thức đối với vật liệu đã mua nhưng không có hóa đơn GTGT, anh Nguyễn Minh P đã tìm hiểu, trao đổi với chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1982; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn P, thị trấn P, huyện Đ, TP Hà Nội để mua hóa đơn GTGT. Do có mối quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị Thanh L (Kế toán của Công ty G) nên chị T2 đã trao đổi, được chị L cho số điện thoại của Lê Thị Thanh H. Sau khi liên lạc, Lê Thị Thanh H đồng ý bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho Công ty G với chi phí là 4% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn, chị T2 đã thông báo với anh Nguyễn Minh P về chi phí mua, bán hóa đơn là 4,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn; để được hưởng lợi 0,5% và được anh P đồng ý. Sau đó, chị Nguyễn Thị T2 đã giao dịch, mua trái phép 02 hóa đơn GTGT là hóa đơn điện tử, đã ghi nội dung của Công ty X1 cho Công ty S2. Gồm:
- Hóa đơn số 00002156 ngày 29/9/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 676.230.616 đồng; chi phí Công ty S2 phải trả để mua hóa đơn là 676.230.616 đồng x 4,5% = 30.430.377 đồng (trong đó Lê Thị Thanh H hưởng lợi 4% tương ứng 27.049.225 đồng, chị Nguyễn Thị T2 hưởng lợi 0,5% tương ứng 3.381.153 đồng).
- Hóa đơn số 00002553, ngày 31/10/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 689.098.140 đồng; chi phí Công ty S2 phải trả để mua hóa đơn là 689.098.140 đồng x 4,5% = 31.009.416 đồng (trong đó Lê Thị Thanh H hưởng lợi 4% tương ứng 27.563.926 đồng, chị Nguyễn Thị T2 hưởng lợi 0,5% tương ứng 3.445.490 đồng).
Để hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn: Khi cần xuất hóa đơn anh Nguyễn Minh P đã chỉ đạo anh Bùi Xuân T3 (là người Phương thuê quản lý công trình) tổng hợp số liệu, rồi cung cấp cho anh P, anh P cung cấp cho chị Nguyễn Thị T2, chị T2 gửi cho Lê Thị Thanh H để soạn thảo hợp đồng, đưa biên bản giao nhận hàng hóa do chị Nguyễn Thị H2 là kế toán của Công ty X1 ký; Lê Thị Thanh H là người đăng nhập tài khoản của Công ty X1 và thực hiện thao tác xuất khống
5
hóa đơn. Sau khi, Công ty S2 thực hiện ủy nhiệm chi (chuyển tiền) từ tài khoản số [...] là tài khoản của Công ty S2 mở tại Ngân hàng V–Chi nhánh H5 đến tài khoản số 8281100023006 là tài khoản của Công ty X1 mở tại Ngân hàng M1 – Chi nhánh S1 để hợp thức, thanh toán đối với hàng hóa dịch vụ ghi trên hóa đơn GTGT số 00002156 ngày 29/9/2023 đã mua của Công ty X1. Lê Thị Thanh H tiếp tục sử dụng séc của Công ty X1 để rút tiền, giữ lại chi phí là tiền bán hóa đơn tương ứng 4% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn rồi chỉ đạo chị Nguyễn Thị L1 chuyển số tiền còn lại vào tài khoản số 19031517214012 là tài khoản của anh Nguyễn Minh P mở tại Ngân hàng T5, theo yêu cầu của anh P. Mặc dù, Công ty S2 chưa chuyển tiền thanh toán hợp thức đối với hóa đơn GTGT số 00002553, ngày 31/10/2023 nhưng anh Nguyễn Minh P đã thanh toán tiền phí mua đối với 02 hóa đơn GTGT trên với chi phí 0,5% cho chị Nguyễn Thị T2 bằng hình thức trả tiền mặt.
Sau đó Nguyễn Minh P đã sử dụng 02 hóa đơn GTGT đã mua của Công ty X1 để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào cho Công ty S2 vào các kỳ tính thuế tương ứng ghi trên hóa đơn. Đầu tháng 8/2024 khi biết Cơ quan điều tra xác minh về vi phạm trên, anh P đã chỉ đạo kê khai, điều chỉnh và loại trừ đối với 02 hóa đơn GTGT này.
Như vậy, việc mua bán trái phép số lượng 02 hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho Công ty S2 thì số tiền thu lợi bất chính của Lê Thị Thanh H là 54.613.151 đồng và Nguyễn Thị T2 là 6.826.643 đồng.
Ngày 15/8/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định Cục T6, để xác hành hành vi trốn thuế của Công ty TNHH X2; Công ty TNHH G và Công ty TNHH S2.
Ngày 26/11/2024 Giám định Tư pháp của Cục thuế Thành phố T6 kết luận:
- Công Ty TNHH X2 có hành vi sử dụng bất hợp pháp 06 hóa đơn GTGT ( 01 hóa đơn khống một phần), xác định là hành vi trốn thuế :
“Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp, hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tổng số tiền thuế được khấu trừ; số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp”.
Tổng số thuế GTGT phải nộp là 253.575.906 đ (Năm 2002 : 0 đồng, năm 2023 : 253.575.906 đồng). - Công ty TNHH G có hành vi sử dụng bất hợp pháp 05 hóa đơn GTGT
Tổng số thuế GTGT phải nộp là 13.009.003 đồng ( năm 2023: 12.036.903 đồng, năm 2024 : 972.800 đồng) - Công ty TNHH S2 có hành vi sử dụng bất hợp pháp 02 hóa đơn GTGT.
Tổng số thuế GTGT phải nộp là 62.616.887 đồng (năm 2023).
Căn cứ kết luận giám định, ngày 11/12/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can đối với Hồ Thị H1 (giám đốc Công ty TNHH X2),về tội: Trốn thuế.
6
Vật chứng vụ án là 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 thu giữ của Hồ Thị H1 và 01 điện thoại Iphone 11 thu giữ của Nguyễn Thị Thanh L được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để bảo quản chờ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Thị Thanh H về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 2 Điều 203 của BLHS, Hồ Thị H1 về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 1 Điều 200 của BLHS
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính:
Áp dụng khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh H từ 270.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Thị H1 từ 150.000.000 đồng đến 170.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền bị cáo H hưởng lợi bất chính và bị cáo H1 trốn thuế.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo được đưa ra các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định của pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án do họ đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án.
- Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo:
7
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của ngươi làm chứng, các vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã có cơ sở để kết luận:
Khoảng từ tháng 5/2022 đến tháng 01/2024, Lê Thị Thanh H là kế toán Công ty Cổ phần X1, có hành vi bán trái phép 13 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử đã hoàn thiện nội dung) của Công ty X1 cho Công ty TNHH X2; Công ty TNHH G và Công ty TNHH S2 với chi phí từ 3,5 đến 4% giá trị tiền hàng trước thuế để thu lời bất chính số tiền 263.759.813₫.
Đối với Hồ Thị H1 mua và sử dụng bất hợp pháp 06 hóa đơn GTGT (có 01 hóa đơn khống một phần) để trốn thuế số tiền 253.575.906₫.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Thị Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” và bị cáo Hồ Thị H1 phạm tội “Trốn thuế” như Viện kiểm sát truy tố là đúng.
- Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ của nhà nước, đồng thời xâm phạm đến hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước, gây mất trật tự trị an. Khi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy các bị cáo có đủ khả năng để nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố thực hiện.
- Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo Lê Thị Thanh H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền đã hưởng lợi bất chính là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
Bị cáo Hồ Thị H1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thuế là 253.575.906 đồng để khắc phục hậu quả tại Chi cục Thuế Quận B là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. - Về hình phạt đối với các bị cáo:
Về hình phạt chính: Xét thấy, các bị cáo phạm tội trong lĩnh vực thuế thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và nghiêm trọng; đã nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi
8
bất chính và thất thoát của Nhà nước; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; mặt khác đây là vụ án kinh tế có số lượng hóa đơn có giá trị không lớn, hậu quả đã được khắc phục do đó không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần xử phạt tiền là hình phạt chính để sung ngân sách Nhà nước, phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính đã áp dụng hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 263.759.813 đồng là tiền bị cáo H hưởng lợi bất chính từ việc mua bán trái phép hóa đơn nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền 253.575.906 đồng là số tiền bị cáo H1 đã trốn thuế cần truy thu trả về cho Chi cục T để nộp vào ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo H1 đã nộp số tiền 253.575.906 đồng tại Chi cục T theo thông báo số 3094/TB-CCT-KTNDP ngày 18/02/2025.
Đối với:- 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 14 Promax; Màu tím; Số máy: MQ9T3ZP/A; IMEI: 351651520500237; lắp 01 sim V1; đã qua sử dụng thu của Hồ Thị H1.
- 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 11; Màu xanh; Số máy: MWM62VN/A; IMEI: 356565101343327; lắp 01 sim Mobiphone; đã qua sử dụng thu của chị Nguyễn Thị Thanh L.
- Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với Công ty TNHH G và Công ty TNHH S2 xác định số tiền thuế GTGT mà 02 Công ty trốn thuế dưới 100.000.000đ, xác minh nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý hành chính về hành vi trốn thuế - Nên không đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế. Cơ quan điều tra Công an thị xã S có công văn đến Chi cục thuế quận L thông báo vi phạm và đề nghị xem xét xử lý đối với anh Nguyễn Minh P và Công ty S2 theo quy định pháp luật.
Đối với anh Phan Nguyễn S là người đại diện theo pháp (Giám đốc) Công ty X1, trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty. Do không thường xuyên có mặt ở Công ty nên anh Phan Nguyễn S thường ký sẵn séc, giấy rút tiền và giao cho H quản lý, sử dụng để thuận lợi cho việc giao dịch của Công ty. Tuy nhiên, anh S không biết, không tham gia gì cùng Lê Thị Thanh H bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty X1. Cơ quan điều tra có văn bản gửi Chi cục thuế T thông báo về vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với anh Phan Nguyễn S và Công ty X1 theo quy định của pháp luật.
9
Đối với chị Nguyễn Thị T2 là người trực tiếp giao dịch để mua, bán trái phép số lượng 02 hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho Công ty S2, số tiền thu lời bất chính là 6.826.643 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội: In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, quy định tại Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cơ quan điều tra có công văn đến Chi cục thuế Đ thông báo vi phạm và đề nghị xem xét, xử lý đối với các cá nhân chị Nguyễn Thị T2, anh Tô Văn D, chị Nguyễn Thị Thanh L và Công ty G theo quy định của pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị H2 và chị Nguyễn Thị L1 là kế toán của Công ty X1; chị H2 là người ký tên trên biên bản giao, nhận hàng, chị L1 là người thực hiện chuyển tiền theo sự chỉ đạo của Lê Thị Thanh H để H hợp thức hồ sơ, chứng từ có liên quan đến việc bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho các Công ty (Dũng H, IDE và S3). Tuy nhiên, chị H2 và chị L1 không biết, không tham gia gì cùng H trong việc bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty X1. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với chị Nguyễn Thị H2 và chị Nguyễn Thị L1.
Đối với chị Nguyễn Thị H3 và chị Nguyễn Thị X là người cung cấp số tài khoản cá nhân và nhận tiền giao dịch hợp thức việc mua bán trái phép hóa đơn của Công ty X2 và Công ty G. Tuy nhiên, chị H3 và chị X thực hiện là do Hồ Thị H1 và chị Nguyễn Thị Thanh L nhờ; không biết, không tham gia gì trong việc mua bán trái phép hóa đơn. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với chị Nguyễn Thị H3 và chị Nguyễn Thị X.
Đối với anh Bùi Xuân T3 là người tổng hợp, cung cấp số liệu để anh Nguyễn Minh P mua trái phép số lượng 02 hóa đơn GTGT của Công ty X1 cho Công ty S2. Tuy nhiên, anh T3 không biết, không tham gia gì trong việc mua bán trái phép hóa đơn. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với anh Bùi Xuân T3.
Đồ vật, tài liệu thu giữ khi khám xét nơi làm việc của Lê Thị Thanh H xác định không lưu giữ thông tin, tài liệu gì có liên quan đến hành vi mua bán trái phép hoá đơn; là tài sản hợp pháp của Công ty X1, nên Cơ quan điều tra Công an thị xã S ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Công ty X1. Gồm:
- 01 (Một) Case máy tính nhãn hiệu “DELL” màu xám-đen (tình trạng đã qua sử dụng); 01 (Một) Màn hình máy tính nhãn hiệu “@jhua” màu đen (tình trạng đã qua sử dụng); 01 (Một) Bàn phím máy tính nhãn hiệu “MITSUMI” màu đen (tình trạng đã qua sử dụng); 01 (Một) Chuột máy tính nhãn hiệu “MITSUMI” màu đen (tình trạng đã qua sử dụng); 01 (Một) Dây nguồn case máy tính màu xám (tình trạng đã qua sử dụng); 01 (Một) Dây nguồn màn hình máy tính màu đen (tình trạng đã qua sử dụng); 01 (Một) Dây HDMI màu đen (tình trạng đã qua sử dụng); 02 (Hai) Séc của Ngân hàng B1 số (H6; HB 002672) chưa điền thông tin, đã có chữ ký và đóng dấu “Công ty Cổ phần X1; 02 (Hai) Giấy lĩnh tiền của Ngân hàng M1, chưa điền thông tin, đã có chữ ký và đóng dấu “Công ty Cổ phần X1”; dấu chức danh “Giám đốc Phan Nguyễn S” tại phần chủ tài khoản và có chữ ký kế toán trưởng.
10
Xét thấy, cơ quan điều tra đã thực hiện đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” và bị cáo Hồ Thị H1 phạm tội “Trốn thuế”
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Lê Thị Thanh H 220.000.000 (Hai trăm hai mươi triệu) đồng
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Hồ Thị H1 180.000.000 (Một trăm tám mươi triệu) đồng
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- +01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 14 Promax; Màu tím; Số máy: MQ9T3ZP/A; IMEI: 351651520500237; lắp 01 sim Viettel; đã qua sử dụng).
- +01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone (Tên kiểu máy: Iphone 11; Màu xanh; Số máy: MWM62VN/A; IMEI: 356565101343327; lắp 01 sim Mobiphone; đã qua sử dụng).
(Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2025)
- +Số tiền 263.759.813 đồng bị cáo H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001208 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- - Buộc bị cáo H1 phải nộp số tiền thuế đã trốn là 253.575.906 đồng. Xác nhận bị cáo H1 đã nộp số tiền 253.575.906 đồng tại Chi cục T theo Thông báo số 3094/TB-CCT-KTNDP ngày 18/02/2025.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lưu Ngọc Hưng |
11
12
Bản án số 14/2025/HSST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về hình sự
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thị Thanh H phạm tội mua bán trái phép hóa đơn
