Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hiền;

Bà Phan Thị Hạnh Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với:

1. Bị cáo Phan Văn Đ, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn Đ1 (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1974; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tháng 02/2017 nhập ngũ, đóng quân tại Học viện C1 - Bộ Q đến tháng 01/2019 xuất ngũ về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/11/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Bùi Anh T1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T2 (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm 1978; bị cáo có vợ là Đinh Thị Diệu L, sinh năm 1998, con sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/12/2022 Công an xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng đối với Bùi Tuấn A về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 03/01/2023 T1 đã nộp phạt xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/11/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Quốc C, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(anh C vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 06/11/2024, sau khi ăn uống tại nhà Bùi Anh T1 tại thôn M, xã Đ (nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Thái Bình, T1 rủ Phan Văn Đ, sinh năm 1998 và Hồ Quốc C sinh năm 1999 đều trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình sử dụng ma túy tổng hợp thì Đ, C đồng ý. Đài đưa cho T1 5.200.000 đồng và bảo T1 đi mua ma túy mang về nhà Đài để cùng sử dụng. T1 cầm tiền đi đến khu vực miếu B thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình tìm mua ma túy. Tại đây T1 gặp một nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ, nghi ngờ người này có ma túy tổng hợp bán nên T1 hỏi mua 01 chỉ ma túy loại Ketamine và 03 viên thuốc lắc (ma túy loại MDMA) thì được người này báo giá 5.200.000đồng. T1 đưa cho người này 5.200.000 đồng, người này nhận tiền và đưa lại cho T1 01 túi nilon trong suốt có kẻ viền màu xanh bên trong chứa túi nilon trong suốt có kẻ viền màu xanh mở ra bên trong có chứa ma túy loại Ketamine và 03 viên thuốc lắc hình tròn màu xanh (ma túy loại MDMA). T1 nhận số ma túy vừa mua được mang về nhà Đài ở thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình thì thấy Hồ Quốc C đến. Gặp T1, Đ bảo T1 "Đưa kẹo đây"; Đài lấy 02 viên thuốc lắc ra đưa cho T1, T1 nhận rồi đưa cho C 01 viên thuốc lắc. Đài, T1, C cho thuốc lắc vào miệng sử dụng rồi đi vào trong phòng ngủ của Đ, sau đó Đ đi xuống bếp lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng dạng hình tròn, Đài bật bếp ga hơ nóng đáy đĩa rồi mang vào phòng ngủ của Đ. Đài lấy 01 túi nilon trong suốt có kẻ viền màu xanh bên trong có chứa 01 túi nilon trong suốt có kẻ viền màu xanh trong cùng có chứa ma túy loại Ketamine để lên trên mặt đĩa, sau đó Đ lấy 01 chiếc thẻ nhựa cứng mang tên PHAN VĂN Đ1 trên mặt bàn trang điểm trong phòng ngủ của Đ và 01 tờ tiền polymer mệnh giá 50.000 đồng đưa cho T1. T1 cầm tờ tiền cuộn thành ống hút rồi dùng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng cố định làm dụng cụ sử dụng ma túy Ketamine. Đài kết nối điện thoại với loa mở nhạc N1 và bật đèn Laser. T1 cầm chiếc đĩa sứ do Đ mang vào, thấy không đủ nóng nên đã mang đĩa xuống bếp mở bếp ga hơ nóng đáy đĩa rồi mang vào phòng ngủ. T1 đổ hết K trong túi nilon ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa xào Ketamine cho mịn. Đài cầm hai vỏ túi nilon chứa ma túy mang ra vườn trước cửa nhà đốt rồi quay vào phòng ngủ. Khi ketamine đã mịn, T1 kẻ sáu đường ketamine trên đĩa. T1 nói "Anh em chơi đi" rồi để đĩa xuống giường. Đài bê đĩa lên và cầm ống hút hít hai đường Ketamine trên đĩa. Sử dụng ma túy xong, Đ để đĩa xuống giường; Chính bê đĩa lên và cầm ống hút hít 02 đường Ketamine trên đĩa. Sử dụng ma túy xong, C để đĩa xuống giường. T1 bê đĩa lên và cầm ống hút sử dụng 02 đường Ketamine còn lại. Sau khi sử dụng ma túy Ketamine xong cả ba người nằm xuống giường nghe nhạc để ngủ. Một lúc sau, T1 dùng thẻ nhựa để kẻ tiếp 06 đường Ketamine trên đĩa rồi để đĩa xuống giường, Đ bê đĩa lên và cầm ống hút hít 02 đường Ketamine trên đĩa rồi để đĩa xuống giường. Chính bê đĩa lên và cầm ống hút hít 02 đường Ketamine trên đĩa rồi để đĩa xuống giường. Tiếp đó, T1 bê đĩa lên và cầm ống hút sử dụng 02 đường Ketamine còn lại sau đó cả ba người nằm nghe nhạc. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã Đ tiến hành kiểm tra nhà ở của Phan Văn Đ phát hiện Đài, T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để Hồ Quốc C cùng sử dụng nên đã thu giữ các vật chứng và đưa Đ, T1, C về trụ sở Công an huyện T để lấy mẫu nước tiểu trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1663/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận các mẫu nước tiểu thu được của Phan Văn Đ, Bùi Anh T1, Hồ Quốc C gửi giám định đều tìm thấy ma túy, loại Ketamine và MDMA; Tại bản kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận mẫu giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,0490 gam.

Cáo trạng số 15/CT-VKSTH ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Phan Văn Đ và Bùi Anh T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình luận tội, giữ nguyên truy tố đối với bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
    • Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50 bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50 bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Bùi Anh T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.
  • Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo nói lời sau cùng xin được sự khoan hồng của pháp luật, xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, gồm:

  • Biên bản sự việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 06/11/2024 tại nhà ở của Phan Văn Đ.
  • Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 06/11/2024;
  • Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý do Trung tâm y tế huyện T;
  • Bản Kết luận giám định số 1663/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T;
  • Bản Kết luận giám định số 1662/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T;
  • Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Hồ Quốc C sinh năm 1999, trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, tại nhà ở của Phan Văn Đ thuộc thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành kiểm tra phát hiện Phan Văn Đ, Bùi Anh T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để Đ, T1 và Hồ Quốc C cùng sử dụng ma túy loại Ketamine và MDMA. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố Phan Văn Đ và Bùi Anh T1 theo điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng quy định.

Điều 255: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
    • Đối với 2 người trở lên;
  3. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cứ trú từ 1 năm đến 5 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phan Văn Đ và Bùi Anh T1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ ma túy là loại chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý, tác hại của ma túy vô cùng nghiêm trọng, nó không chỉ gây ra tổn hại về sức khỏe và kinh tế cho chính người sử dụng mà nó còn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, xã hội và kinh tế của đất nước và là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự nhưng các bị cáo vẫn cố tình tổ chức cho 03 người sử dụng ma túy trái phép nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo.

[4] Đánh giá vai trò đồng phạm của các bị cáo: Trong vụ án này các bị tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của bị cáo Phan Văn Đ. Đài là người trực tiếp rủ các bị cáo về nhà mình để sử dụng ma túy, Đ bỏ tiền mua ma túy, Đ trực tiếp chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy nên Đ giữ vai trò đầu vụ. T1 cầm tiền của Đ đi mua ma túy về đưa cho Đ để Đ tổ chức cho 03 người sử dụng nên T1 giữ vai trò thứ hai.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

  • Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, các bị cáo Bùi Anh T1, Phan Văn Đ đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Phan Văn Đ có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:

[6.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, vai trò đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo Đ và bị cáo T1 tổ chức cho 03 người sử dụng ma túy trái phép nên phải chịu hình phạt tù định khung tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nhưng bị cáo Đ giữ vai trò đầu vụ, vừa là chủ nhà, vừa là người bỏ tiền mua và trực tiếp chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1. Bị cáo T1 đi mua ma túy về để Đài tổ chức cho 03 người sử dụng nên xử phạt bị cáo T1 ở mức khởi khung khoản 2 Điều 255 là phù hợp.

[6.2]Về hình phạt bổ sung: Đối với vụ án này, bị cáo Đ và bị cáo T1 là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên HĐXX xét thấy không cần áp dụng biện hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng vụ án gồm: 01 đĩa sứ màu trắng dạng hình tròn; số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa cứng mang tên Phan Văn Đ1; 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng;

Tịch thu để sung quỹ nhà nước các vật chứng gồm: 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng ; 01 chiếc loa màu đen nhãn hiệu Sony; 01 đèn laser màu đen in chữ TAHOTO; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Z màu đen đã qua sử dụng.

[8] Các nội dung khác liên quan trong vụ án:

Đối với Hồ Quốc C sinh ngày 06/01/1999, trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tài liệu điều tra thể hiện C không xúi giục, giúp sức hoặc có hành vi khác tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng T1, Đài. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định xử phạt hành chính đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đ và bị cáo Bùi Anh T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều khoản và hình phạt:
    • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam tạm giữ (12/11/2024)
    • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Bùi Anh T1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam tạm giữ (12/11/2024)
  3. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng vụ án gồm: 01 đĩa sứ màu trắng dạng hình tròn; số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa cứng mang tên Phan Văn Đ1; 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng;
    • Tịch thu để sung quỹ nhà nước các vật chứng gồm: 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng ; 01 chiếc loa màu đen nhãn hiệu Sony; 01 đèn laser màu đen in chữ TAHOTO; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Z màu đen đã qua sử dụng.
    • (Toàn bộ vật chứng hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025)
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  5. Bị cáo Phan Văn Đ và Bùi Anh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hồ Quốc C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Đài và đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger