|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 14/2025/HSST Ngày: 21/02/2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đình Khanh;
Bà Nguyễn Thị Phương Mai
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng – Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
1.Trần Văn N – Sinh năm: 1974; Nơi ĐKHK và nơi cư trú: TDP H, phường B, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn N1 (đã chết); Con bà : Vũ Thị H - Sinh năm: 1958; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con đầu ;Vợ: Trần Thị L - Sinh năm: 1976; Có 03 con lớn sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2007 ;Tiền án: Tháng 7 năm 2022, bị Tòa án nhân dân dân thành phố Sầm Sơn xử phạt 27 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 25/12/2023 chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2007 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn (nay là thành phố S) xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/9/2009 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích. Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn (nay là thành phố S) xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24/9/2015 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 30/9/2019 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2024 đến ngày 01/10/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
“Có mặt tại phiên tòa”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1990. “Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
(anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 ngày 22/9/2024, tại khu vực đường C, thuộc tổ dân phố L, phường B, thành phố S. Tổ công tác Công an phường B, thành phố S phát hiện Nguyễn Văn Đ sinh năm 1990, ở tổ dân phố T, phường T, thành phố S đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ trên tay phải của Đ 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, dưới đất ngay gần chân Đ 01 vỏ ống nước tiêm, 01 mảnh nilong nhỏ màu đen, 01 mảnh giấy kẻ ngang (Niêm phong H1). Đ khai đang sử dụng ma túy loại Heroine và mua của Trần Văn N sinh năm 1974 ở tổ dân phố H, phường B, thành phố S. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong tang vật, đưa đối tượng về trụ sở tiếp tục làm việc.
Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 22/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn N tại tổ dân phố H, phường B, thành phố S thu giữ: Tại túi quần bên phải màu xanh dương 01 tờ giấy bạc kích thước (4x3)cm, bên trong chứa 02 tờ giấy bạc có 01 tờ gói bên trong 04 viên nén hình tròn màu đỏ, đường kính 0,5cm; 01 tờ gói bên trong chất bột màu trắng (Niêm phong ký hiệu M1); 04 mảnh nilong màu đen kích thước lần lượt là (3x3)cm; (4x3)cm; (3x3,5)cm và (2x2)cm; số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại Redmi Note 12 màu đen gắn 02 sim điện thoại: 0325.249.xxx và 0961 949 865; Tại túi áo mưa màu xanh bên phải treo trên tường nhà số tiền 300.000 đồng; Tại gác xép 01 điện thoại Iphone 6 Plus gắn sim số 0988 455 105; 07 mảnh nilong màu đen kích thước (3x3)cm; 01 lưỡi dao lam; 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 11.500.000 đồng, 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn N, 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCITER, biển kiểm soát 36M1-198.57 mang tên Trần Thị Đ1; Tại ngăn kéo tủ quần áo số tiền 10.000.000 đồng; Xung quanh sàn nhà số tiền 4.670.000 đồng;
Tại Bản kết luận giám định số 3543/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- 04 viên nén hình tròn màu đỏ, mỗi viên có đường kính 0,5cm của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,391g loại: Methamphetamine.
- Chất bột màu trắng của phòng bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,033g loại: Heroine.
Tại Bản kết luận giám định số 3544/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Tìm thấy chất ma túy, loại Heroine bán dính bên trong xilanh nhựa đã qua sử dụng của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Không tìm thấy chất ma túy bám dính bên trong ống thủy tinh (dạng vỏ ống đựng nước cất) của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định.
- Tìm thấy chất ma túy, loại Heroine bán dính trên mành giấy trắng dạng kẻ ngang của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Tìm thấy chất ma túy, loại Heroine bán dính trên mảnh nilong màu đen của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 ngày 22/9/2024, Đ gọi điện thoại cho N hỏi mua 01 gói Heroine 500.000 đồng. N đồng ý, hẹn qua nhà lấy. Đ đi xe mô tô đến nhà trước nhà N ở đường N, phường B, thành phố S. Gặp nhau, Đ đưa 500.000 đồng, N lấy trong túi quần 01 gói Heroine đưa lại cho Đ, bỏ tiền trong túi quần rồi vào nhà. Mua được H1, Đ đi ra khu vực đường C thuộc tổ dân phố L, phường B, thành phố S để sử dụng, khi vừa sử dụng xong thì bị phát hiện, lập biên bản còn Trần Văn N bị khám xét khẩn cấp thu giữ 0,391g Methamphetamine và 0,033g Heroine.
Đấu tranh, làm rõ, các đối tượng khai nhận còn mua bán Heroine 01 lần trước đó, cụ thể: Khoảng hơn 12 giờ 00 ngày 20/9/2024, Đ gọi điện thoại cho N hỏi mua 300.000 đồng Heroine. N đồng ý, hẹn gặp ở đường M, bên cạnh khách sạn H4 thuộc tổ dân phố H, phường B, thành phố S. N mặc áo mưa, đi xe máy điện màu xanh đến, gặp Đ đang đứng gần thùng rác công cộng. Đ đưa cho N 300.000 đồng, N cầm tiền đưa lại cho Đ 01 gói Heroine rồi đi về nhà, mua được Đ đem đi sử dụng hết. N đã sử dụng cả hai chiếc điện thoại Redmi Note 12 màu đen và điện thoại Iphone 6 Plus để liên lạc bán ma túy cho Đ.
Đối với số ma túy Trần Văn N có được là do sáng ngày 19/9/2024 N đi đến khu vực gần Bệnh viện T2, phường Đ, thành phố T gọi điện cho người tên H2 khoảng 45 tuổi, cao khoảng 1m60 hỏi mua 1.000.000 đồng được 06 viên hồng phiến và một cục Heroine. Mua được, N đi về nhà sử dụng 02 viên hồng phiến và một ít Heroine, số còn lại N chia nhỏ để bán, đã bán cho Đ 02 gói Heroine lấy 800.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 03 viên nén hình tròn màu đỏ, mỗi viên có đường kính khoảng 0,5cm có khối lượng là 0,289g; 0,020g chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn N; Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 01 xilanh nhựa đã sử dụng, 01 vỏ nước cất tiêm, 01 mảnh giấy trắng dạng kẻ ngang, 01 mảnh nilong màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Đ được đựng trong 02 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T, Lại Thị Thanh L1, Lê Quang H3 và các hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh T; 01 mảnh giấy bạc cháy xám; 11 mảnh nilong màu đen; 01 dao lam băng kim loại; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note12 gắn 02 sim số 0325249348 và 0961949865; 01 điện thoại Iphone 6 Plus, gắn sim số 0988455105 và số tiền 800.000 đồng thu giữ của Trần Văn N hiện được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn chờ xử lý.
Đối với người bán ma túy cho N, N khai mua của người đàn ông tên H2, cao khoảng 1m60, khoảng 45 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe Honda Wave alpha màu trắng, có số điện thoại 0345.323.xxx. Quá trình xác minh không xác định người bán ma túy cho bị cáo N là ai và xác định số điện thoại 0345.323.xxx chủ thuê bao là Bùi Văn T1, sinh năm 1997, ở thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Bùi Văn T1 khai không biết Trần Văn N, chưa từng gặp hay cho mượn điện thoại để sử dụng. Qua dữ liệu thông tin do V cung cấp, không phát sinh cuộc gọi điện thoại từ số điện thoại 0988.455.xxx và 0325.249.348 đến số 0345.323.680. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định người bán ma tuý cho Trần Văn N để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn Đ, Trần Văn N khai nhận sử dụng ma túy phù hợp kết quả xét nghiệm nhanh dương tính chất ma túy. Cơ quan điều tra chuyển đến Công an thành phố S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương quản lý, giáo dục.
Đối với 01 ví da, 01 giấy phép lái xe, 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn N, 01 đăng ký xe mô tô YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 36N1 - 198.57 mang tên Trần Thị Đ1, số tiền 26.170.000 đồng. Quá trình xác minh, xác định chủ sở hữu là của bà Vũ Thị H (mẹ đẻ N) nhờ Trần Văn N gửi cho em gái là Trần Thị Đ1 ở thị trấn T, tỉnh Thanh Hóa 27.000.000 đồng, N chưa gửi mà lấy chi tiêu hết 830.000 đồng, còn lại 26.170.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho các chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe máy điện Trần Văn N sử dụng đi bán ma tuý, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là của anh Đặng Bá V1 sinh năm 1975 ở tổ dân phố K, phường T, thành phố S. Trần Văn N sử dụng chiếc xe máy điện trên đi bán ma tuý anh V1 không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện trên cho chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 15/CTr-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù,
Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, 01 vỏ nước cất tiêm, 01 mảnh giấy trắng dạng kẻ ngang, 01 mảnh nilong màu đen, 01 mảnh giấy bạc; 11 mảnh giấy nilong, 01 dao lam bằng kim loại; Tịch Thu sung công quỹ nhà nước điện thoại nhãn hiệu Redmi Note12 gắn sim, điện thoại Iphone 6 Plus gắn sim và số tiền 800.000 đồng; Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã vắng mặt và anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:
Sáng ngày 19/9/2024, Trần Văn N mua của người tên H2 ở trước Bệnh viện T2, thuộc phường Đ, thành phố T 1.000.000 đồng được 06 viên ma túy Hồng P và 01 cục H5 đem về sử dụng và chia nhỏ để bán. Khoảng 12 giờ 00 ngày 20/9/2024 và khoảng 15 giờ 00 ngày 22/9/2024 trên đường M, bên cạnh Khách sạn H4, thuộc tổ dân phố H, phường B và trước nhà ở tại đường N, thuộc tổ dân phố H, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Trần Văn N đã 02 lần bán cho Nguyễn Văn Đ 02 gói Heroine với tổng số tiền 800.000 đồng, số ma túy còn lại bị thu giữ 0,391g Methamphetamine và 0,033g Heroine. Theo lời khai và sự thừa nhận của bị cáo đây là số ma túy bị cáo cất giấu với mục đích bán kiếm lời.
Căn cứ vào Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ- CP ngày 02/02/2018 quy định thì tổng khối lượng của các chất ma túy trong trường hợp này thuộc khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015. Tuy nhiên bị cáo đã bán ma túy 2 lần với 02 gói Heroine cho anh Nguyễn Văn Đ.
Vì vậy hành vi của bị cáo Trần Văn N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS như Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Vụ án xảy ra là rất nghiêm trọng, bởi lẽ ma tuý là hiểm hoạ của cả nhân loại và của mỗi một gia đình, nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm phát sinh như trộm cắp, cướp của, giết người..., gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo đã làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm.
Bị cáo N có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử vẫn không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có điều kiện kinh tế, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo .
[6] Về vật chứng:
Xét số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T, 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, 01 vỏ nước cất tiêm, 01 mảnh giấy trắng dạng kẻ ngang, 01 mảnh nilong màu đen, 01 mảnh giấy bạc; 11 mảnh giấy nilong, 01 dao lam bằng kim loại . Đây là các vật chứng đã thu giữ của bị cáo Trần Văn N và của anh Nguyễn Văn Đ. Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành, sử dụng và 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, 01 vỏ nước cất tiêm, 01 mảnh giấy trắng dạng kẻ ngang, 01 mảnh nilong màu đen, 01 mảnh giấy bạc; 11 mảnh giấy nilong, 01 dao lam bằng kim loại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng đã thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note12 gắn sim, 01 điện thoại Iphone 6 Plus gắn sim và số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) của bị cáo N. Đây là những vật chứng sử dụng vào việc mua bán ma túy và liên quan trực tiếp đến việc phạm tội. Vì vậy căn cứ vào Khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung công quỹ nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 46, 47 BLHS; Khoản 1, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 22/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn N
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, 01 vỏ nước cất tiêm, 01 mảnh giấy trắng dạng kẻ ngang, 01 mảnh nilong màu đen, 01 mảnh giấy bạc; 11 mảnh giấy nilong, 01 dao lam bằng kim loại và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K - Công an tỉnh T.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note12 gắn sim, 01 điện thoại Iphone 6 Plus gắn sim và số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) của bị cáo Trần Văn N.
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng số 21/2025/THA ngày 24/01/2025 và theo Biên lai thu tiền số 0000757 ngày 10/02/2025 được mở tại kho bạc nhà nước S.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Long |
Bản án số 14/2025/HSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 2 Đ251; khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo N 7n 6 tháng tù
