|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HSST Ngày 16/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Duyên Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Đình Sở - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí xã Thục Luyện, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Ông Bùi Đức Quảng - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. (Nguyên là giáo viên trường THCS xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn).
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2025; đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc H, sinh ngày 03/4/2006 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc V, sinh năm 1979 và bà Đinh Thị Q, sinh năm 1980; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2024. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P.
1
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Cháu Trương Quốc B, sinh ngày 01/12/2008. (Có mặt)
Người đại diện theo pháp luật của cháu B: Bà Trần Thị L, sinh năm 1973. (Có mặt)
Địa chỉ: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu B: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng D1, sinh năm 1983. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/9/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an thị trấn T, huyện T chuyển đến với nội dung: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 15/9/2024 cháu Trương Quốc B bị Trần Ngọc H dùng vũ lực, đe doạ ép cháu B cầm cố xe đạp điện cho anh Nguyễn Trọng D1 lấy số tiền 1.300.000đ, sau đó H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ để làm rõ nội dung vụ việc. Tại Cơ quan điều tra, nội dung vụ việc được làm rõ như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/9/2024, Trương Quốc B điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA Eco, màu xanh đen đến quán B2 tại phố T, thị trấn T, huyện T để chơi. Khi B chơi được khoảng 10 phút thì có Trần Ngọc H cùng Bùi Thế N (Sinh năm 2009, trú tại khu H, thị trấn T, huyện T) - là bạn của B - đi từ Nhà nghỉ 026 thuộc thị trấn T, huyện T đến quán B2 để chơi và gặp B. Do đang cần tiền chi tiêu cho bản thân nên H đề nghị B mang xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh đen, đã qua sử dụng của B đi cầm cố lấy tiền để đưa H thì B đồng ý. Sau đó, H yêu cầu B chở lên nhà Nguyễn Trọng D1 là người quen của H và B để cầm cố xe đạp điện trên. Khi gần đến nhà D1, B thay đổi ý định, không muốn cầm cố xe đạp điện lấy tiền đưa cho H nữa nên B nói với H “Thôi em không cắm đâu, sợ về bố mẹ em biết thì em không biết về nhà kiểu gì” thì H quát B và nói “Bây giờ tao nịnh
2
mày như bố rồi, tỷ thằng Q1 xuống, tao sẽ bảo lai mày lên bà hoặc tao cho mày tiền gọi taxi về”. Thấy vậy, B nói “Bây giờ em với anh sang quán B1-a Hoàng G của chú T xem chú có cho cắm không vì em quen chú ấy”, H đồng ý rồi H và B quay lại quán B2 ở phố T, thị trấn T, huyện T thì không thấy chủ quán nên cả hai quay lại nhà D1 để cầm cố xe. B chở H đi đến khu vực Trung tâm văn hóa huyện T thuộc phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ rồi nói với H “Giờ em phải lên quán B2-a G1 chở anh H1 đi lấy xe”. Thấy B không muốn giúp mình nên H dùng tay phải đấm một cái vào phía tai phải và dùng tay trái đấm một cái vào phía tai trái của B rồi liên tục dùng hai tay đấm về phía trên mũ bảo hiểm của B 4 đến 5 lần. Đấm xong H nói “Bây giờ anh thua mất nhiều tiền rồi, anh chẳng còn gì để mất nữa, bảo anh giết người anh cũng làm”, B nghe H nói vậy thì hoảng sợ nên chấp thuận nghe theo, không nói gì nữa mà chở H lên nhà D1. Khi đến nhà D1, H và B đứng ở sân còn D1 đứng ở cửa nhà, H hỏi D1 “Chú cho thằng em cháu cắm cái xe, có được triệu rưỡi không chú, tối cháu nhổ”, D1 trả lời “chỉ được triệu ba thôi” thì H đồng ý và hỏi muốn chuộc xe thì mất bao nhiêu tiền lãi, D1 trả lời lãi là 300.000 đồng. Lúc này B nói với H “Chờ thằng Q1 đến đây đón đã”, D1 thấy vậy thì nói “Thôi dẹp, dẹp, không cắm gì nữa” rồi đi vào trong nhà. Do thấy B nhiều lần muốn trì hoãn việc cầm cố xe nên H bực tức và cầm 01 chiếc ghế gỗ ở sân nhà D1, gần chỗ H đứng rồi giơ về phía B và nói “Không phải đợi ai hết, việc của mày bây giờ là đồng ý cắm thôi”. Nghe H nói xong B không nói gì thêm. Sau đó H gọi D1 ra, D1 hỏi lại B “Thế bây giờ mày có cắm xe nữa không?” thì B đồng ý. Trước đó vào ngày 13/9/2024, B và H đã đến nhà D1 để cầm cố chiếc xe trên vay 3.000.000 đồng cho H. D1 yêu cầu B viết giấy bán xe, khi nào B trả tiền thì sẽ lấy lại xe. Sau đó, D1 dùng tài khoản Ngân hàng Q2 (M) tên “Nguyen Trong D2”, số tài khoản 0869071800 chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản M số 0356193947 mang tên “NGUYEN VINH QUANG” do H cung cấp (là số tài khoản của Nguyễn Vinh Q1 - sinh năm 2008; trú tại Khu H, xã G, huyện T - bạn của H). Do H và Q1 đang sử dụng chung tài khoản này và điện thoại của H có lưu sẵn mật khẩu là hình ảnh khuôn mặt H nên H sử dụng tài khoản này để tiến hành giao dịch). Đến ngày 14/9/2024, H đã trả 3.000.000 đồng cho B và B đã đi lấy xe đạp điện về. Tuy nhiên, giấy tờ mua bán xe D1 vẫn cầm. Quá trình vay tiền ngày 15/9/2024, D1, B và H thống nhất B để lại chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIAECO, màu xanh đen, đã qua sử dụng của B để làm tài sản thế chấp và sửa lại ngày trong giấy bán xe trước đó, khi nào B trả tiền thì sẽ lấy lại xe, tiền sẽ chuyển vào tài khoản do H cung cấp nên D1 lấy tờ giấy bán xe của B lập từ ngày 13/9/2024 rồi D1 sửa từ ngày 13 thành ngày 15 và bảo H ghi thêm dòng chữ bên
3
dưới với nội dung “Tôi chứng nhận những điều ghi trên là đúng sự thật” và ký ghi rõ họ tên, giấy tờ bán xe do D1 cầm. Sau đó, D1 dùng tài khoản M tên “N1”, số tài khoản 0869071800 chuyển số tiền 1.300.000 đồng vào tài khoản M tên “NGUYEN VINH QUANG”, số tài khoản 0356193947 do H cung cấp. Khi nhận được tiền, H nhờ D1 bảo Nguyễn Trọng L1 (Sinh năm 2008; trú tại phố C, thị trấn T, huyện T) là con trai D1, lấy xe chở H và B về quán B2-a G1. Sau đó, H mượn xe máy của một người không quen biết ở quán bi-a và rủ B đi cùng mình đến nhà Hoàng Minh P (Sinh năm 1993, trú tại xóm T, xã V, huyện T) để lấy lại chiếc điện thoại Iphone Xs Max mà H đã dùng làm tài sản đảm bảo để vay của P số tiền 1.000.000 đồng vào ngày 14/9/2024. Khi lấy điện thoại, H dùng điện thoại vào ứng dụng tài khoản M, tên “NGUYEN VINH QUANG”, số tài khoản 0356193947 chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản M, tên “BUI THI HUYEN”, số tài khoản 0868235859 do P cung cấp. Đây là tài khoản ngân hàng P sử dụng cùng vợ là chị Bùi Thị H2 (Sinh năm 1995, trú tại xóm T, xã V, huyện T). Sau đó, H rút nốt số tiền 300.000 đồng trong tài khoản ngân hàng và đã sử dụng chi tiêu hết. Đến khoảng 21 giờ ngày 15/9/2024, do đã tiêu hết tiền nên H đã bán chiếc điện thoại Iphone Xs Max cho một người đi đường khômg quen với giá 1.000.000 đồng, số tiền này H đã chi tiêu cá nhân hết mà không sử dụng để chuộc lại chiếc xe đạp điện cho B. Cùng ngày, do không thấy B về nhà nên anh trai B là Trương Quốc K (Sinh năm 2007; trú tại khu T, thị trấn T, huyện T) đến quán B2-a tìm và biết được sự việc trên, sau đó K đã nói lại với mẹ là chị Trần Thị L, chị L đã đến Công an thị trấn T trình báo nội dung sự việc.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành xem xét dấu vết thân thể của Trương Quốc B, xác định không có thương tích gì.
Tiến hành kiểm tra, khai thác dữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI, màu đen, gắn sim số 0869071800 của Nguyễn Trọng D1. Tại ứng dụng Ngân hàng Q2 (MB) tên “Nguyen Trong D2”, số tài khoản 0869071800, có lịch sử giao dịch thể hiện nội dung vào 12 giờ 32 phút, ngày 15/9/2024 chuyển số tiền 1.300.000 đồng đến số tài khoản 0356193947 tên “N2”, Ngân hàng Q2 (MB). Ngày 09/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q2 chi nhánh P1 cung cấp thông tin và lịch sử giao dịch của tài khoản số 0356193947. Kết quả phù hợp với lời khai và biên bản kiểm tra điện thoại.
Cơ quan điều tra đã thu giữ một đoạn video tại camera an ninh phía trước cửa hàng của bà Hà Thị T1 (Sinh năm 1980, trú tại phố C, thị trấn T, huyện T). Video thể hiện nội dung hình ảnh vào lúc 12 giờ 12 phút ngày 15/9/2024, Trương
4
Quốc B điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh đen, chở theo sau là Trần Ngọc H đang đi trên đường thì H dùng tay đánh nhiều lần và có lời nói đe dọa, ép buộc đối với B để mang xe đi cầm cố.
Ngày 16/9/2024, Nguyễn Trọng D1 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA Eco màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc ghế gỗ, đã qua sử dụng và 01 bản photocoppy Giấy bán xe cho Cơ quan công an để xử lý.
Ngày 18/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA, màu xanh đen, đã qua sử dụng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 56 ngày 18/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “01 xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA, màu xanh đen, đã qua sử dụng, trị giá 3.500.000 đồng”.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Ngọc H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, Trần Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quan điểm của người bị hại và đại diện theo pháp luật của bị hại: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là đúng, chị L và cháu B đã nhận lại chiếc xe nên không có yêu cầu gì. Đề nghị HĐXX xem xét đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSThS ngày 11 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Ngọc H từ 42 đến 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 12/10/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Ngọc
5
H.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh-đen, đã qua sử dụng cho chị Trần Thị L là phù hợp.
Tịch thu tiêu hủy: 01 ghế gỗ, loại ghế đẩu, đã cũ.
Về dân sự: Đối với số tiền 1.300.000₫ D1 đã cho Trương Quốc B vay ngày 15/9/2024, D1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xem xét.
Án phí: Bị cáo Trần Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của ông Bùi Đức D – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông D nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Thanh Sơn. Phía bị hại đã được bảo vệ quyền lợi nên ông D không có yêu cầu gì khác, đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Ngọc H không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Ngọc H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Ngày 15/9/2024, Trần Ngọc H đã có hành vi dùng lời nói, hành đồng đe doạ cháu Trương Quốc B (Sinh ngày 01/12/2008) để ép buộc cháu B phải cầm cố
6
chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh-đen của mẹ cháu B mua cho B sử dụng cho anh Nguyễn Trọng D1 để lấy số tiền 1.300.000đ cho H sử dụng chi tiêu cá nhân. Tại thời điểm H thực hiện hành vi với cháu B thì cháu B mới 15 tuổi 9 tháng 15 ngày. Hành vi của Trần Ngọc H đã phạm tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tính chất vụ án, tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đặc biệt bị cáo còn phạm tội với người dưới 16 tuổi, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Ngọc H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp so với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cải tạo và tu dưỡng bản thân, có như vậy bị cáo mới có thể nhận ra sai lầm của mình, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 170 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị và là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.300.000₫ H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, anh D1 không có yêu cầu hay đề nghị lấy lại nên HĐXX không xem xét.
7
[6]. Các nội dung khác:
Đối với Nguyễn Trọng D1: Ngày 15/9/2024 tại phố C, thị trấn T, huyện T, Nguyễn Trọng D1 đã cho Trương Quốc B cầm cố tài sản là chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh đen, đã qua sử dụng với số tiền 1.300.000đ, tiền lãi là 300.000đ. Khi cho B cầm cố, D1 không biết việc Trần Ngọc H đã đe doạ, ép buộc B cầm cố chiếc xe đạp điện trên, do đó hành vi trên của D1 không có dấu hiệu tội phạm “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Trọng D1 là hành vi vi phạm hành chính “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự” quy định tại điểm đ, khoản 4, Điều 12, Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội..... Mức phạt tiền từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ. Xét thấy là phù hợp.
Đối với Hoàng Minh P: Ngày 14/9/2024, để được P cho vay số tiền 1.000.000đ, H đã tự nguyện để lại chiếc điện thoại Iphone Xs Max của mình cho P để làm tin và P cũng không lấy tiền lãi gì từ số tiền này. Hành vi của Hoàng Minh P là giao dịch dân sự, không có dấu hiệu tội phạm“Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề nghị xử lý là phù hợp với quy định.
[7]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh-đen, đã qua sử dụng. Tiến hành xác minh nguồn gốc chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh đen, đã qua sử dụng xác định: Chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị L là mẹ đẻ của Trương Quốc B, được chị L mua vào ngày 05/2/2024 tại cửa hàng của anh Nguyễn Đức H3 (Sinh năm 1964, trú tại phố B, thị trấn T, huyện T) với giá 6.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng D1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T. Chiếc xe sau đó đã được trả lại cho chị Trần Thị L. Chị L đã nhận lại xe và không yêu cầu, đề nghị gì thêm nên cần xác nhận là phù hợp.
8
Đối với 01 ghế gỗ, loại ghế đẩu, đã cũ do anh Nguyễn Trọng D1 đã tự nguyện giao nộp, anh D1 không đề nghị nhận lại, HĐXX xét thấy đây là đồ vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[8]. Về quan điểm của VKSND huyện Thanh Sơn: Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn là phù hợp nên chấp nhận.
[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ Điểm c khoản 2 Điều 170- Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản".
2. Về hình phạt:
Căn cứ Điểm c khoản 2 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 12/10/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Ngọc H.
3. Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xác nhận ngày 03/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu AIMIA ECO, màu xanh-đen, đã qua sử dụng cho chị Trần Thị L.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ghế gỗ, đã cũ.
Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh P bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/3/2025.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
9
Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Duyên Hòa |
10
Bản án số 14/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
