|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 18/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Chung
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lưu
- Ông Nguyễn Ngọc Quang
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cúc Phương - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Quốc V, sinh năm: 1985, tại V.
Nơi ĐKTT và chổ ở: Thôn Đ, xã V, V, Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình É, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; Con: Trần Nguyễn An N, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024 đến ngày 14/01/2025; được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam sang bảo lĩnh từ ngày 14/01/2025 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Trần Thị N1, sinh năm 1982.
- Trú tại: Thôn Đ, xã V, V, Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Quốc V lái xe tải, thỉnh thoảng có vào huyện C, Quảng Trị và biết tại khu vực gần ngã tư S có bán các loại pháo nổ do nước ngoài sản xuất. Khoảng 13 giờ ngày 22/12/2024, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VISON, biển kiểm soát 74L1 - 309.54 vào ngã tư S, ngay góc đèn xanh, đèn đỏ, thấy một người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ tên và địa chỉ) nên đến hỏi: “Anh biết ở đây có ai bán pháo nổ không chỉ em với, em mua mấy hộp về chơi tết”, thì người này nói: “mua pháo chi, ở đây đầy người bán”, V trả lời: “ nếu có thì nhờ anh chỉ chổ cho em mua 07 (bảy) hộp pháo, nếu có pháo 49 (tức là loại pháo nổ 01 lóng 49 ống) thì lấy 05 hộp, còn pháo 36 (loại pháo nổ có 36 ống) thì 02 hộp”. Người đàn ông nói pháo hoa nổ 49 giá 500.000 đồng/hộp, pháo hoa nổ 36 giá 450.000 đồng/hộp, V đồng ý mua. Một lúc sau người đàn ông quay lại đưa 01 túi ni lông màu đen, V kiểm tra bên trong có 07 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài có ghi chữ nước ngoài rồi trả 3.400.000 đồng tiền mặt. V để túi ni lông chứa pháo nổ trên ở vị trí gác chân của xe mô tô rồi đi về nhà. Khi đến địa phận đường liên xã H - V thì gặp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện V phối hợp với Công an xã V kiểm tra phát hiện tại vị trí để chân trên xe mô tô có 01 túi ni - long màu đen bên trong có 07 hộp giấy, trong đó có 03 hộp kích thước 10 x 17,5 x 17,5cm, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) ống hình trụ tròn, bên ngoài hộp giấy có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, có chữ BILLION X, ký hiệu KS4 - 4911X, nghi là pháo hoa nổ; 02 hộp giấy mỗi hộp có kích thước 10 x 17,5 x 17,5cm, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) ống hình trụ tròn, bên ngoài hộp giấy có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, có chữ EAGLE 49m, ký hiệu AY04-23-049; 02 hộp giấy mỗi hộp có kích thước 14 x 14 x 12cm, bên ngoài hộp giấy có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, bên trong mỗi hộp có 36 (ba mươi sáu) ống hình trụ tròn, bên ngoài hộp giấy có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, ký hiệu KR5-3611. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ toàn bộ tang vật, phương tiện để điều tra làm rõ.
Sau khi bị bắt quả tang, V khai nhận tại nhà của bố mẹ mình ở thôn Đ, xã V, huyện V còn cất giữ 09 hộp pháo hoa nổ và 02 hai bao pháo nổ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của V, V đã tự nguyện giao nộp 09 hộp giấy mỗi hộp có kích thước 14 x 14 x1 2cm, bên ngoài hộp giấy có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, bên trong mỗi hộp có 36 (Ba mươi sáu) ống hình trụ tròn, bên ngoài hộp giấy có nhiều hoa văn nhiều màu sắc, ký hiệu KR5 - 3611; 02 bao nilông trong suốt bên trong có chứa các vật hình cầu nhiều màu sắc khác nhau, bên ngoài mỗi vật có một sợi dây. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã niêm phong toàn bộ tang vật trên.
Tại kết luận Bản giám định số 96/KL - KTHS ngày 30/12/2024 của phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P1 gửi đến giám định là pháo hoa nổ, khối lượng 11,2 kg; mẫu vật ký hiệu P2 là pháo hoa nổ, khối lượng 10,5kg. Các vật hình nhiều màu sắc, bên ngoài mỗi vật có gắn đoạn dây gửi đến giám định là pháo nổ, khối lượng 0,9kg.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về các vấn đề khác của vụ án: V khai nhận khoảng đầu năm 2024 mua 09 hộp pháo hoa nổ và 02 hai bao pháo nổ, mục đích cất giấu để sử dụng vào các dịp lễ, tết, sinh nhật. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA; số loại: VISON; màu sơn: đỏ đen, biển kiểm soát: 74L1 - 309.54 là của Trần Thị N1, bị cáo sử dụng vào việc vận chuyển pháo chị N1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N1, chị N1 không có yêu cầu gì.
Theo lời khai của Trần Quốc V, nguồn gốc số pháo bị Cơ quan điều tra thu giữ là do V mua của một người đàn ông xe ôm tại N thuộc địa phận huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vương không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông trên, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo Trần Quốc V thì không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh, do đó không đủ cơ sở để điều tra, làm rõ.
Ông Trần Đình É, bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị T (bố, mẹ và vợ V), không biết hành vi tàng trữ pháo hoa nổ và pháo nổ của V tại nhà của mình nên không xem xét xử lý.
Tại bản cáo trạng số 07/CT - VKS-VL ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đã truy tố bị cáo Trần Quốc V về tội "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm"
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc V từ 07 tháng đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng đến 16 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm” và từ 09 tháng tù đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 20 tháng về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là: 16 tháng tù đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; miễn các hình phạt bổ sung còn lại cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao nilon màu đen, có kích thước 52 cm x 91cm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Ngày 22/12/2024, tại đường liên xã H - V thuộc huyện V, tỉnh Quảng Trị, Trần Văn V1 đang thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 12 hộp pháo hoa nổ về nhà cất giấu thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện V phối hợp với Công an xã V phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngoài ra, bị cáo V1 còn cất giấu 09 hộp pháo hoa nổ và 02 hai bao pháo nổ tại nhà mình ở thôn Đ, V, V. Bị cáo Trần Quốc V vận chuyển, cất giấu số pháo hoa nổ và pháo nổ trên nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo Trần Quốc V phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng pháo nổ và pháo hoa nổ là 22.6kg.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn huyện V. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú về hành vi phạm tội của mình; bị cáo sống trong gia đình có ông bà, nội được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để răn đe, giáo dục cũng như công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; các hình phạt bổ sung còn lại miễn cho bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: 01 (một) bao nilon màu đen, có kích thước 52 cm x 91cm không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA; số loại: VISON; màu sơn: đỏ đen, biển kiểm soát: 74L1-309.54; số khung: RLHJK0300MY004356; số máy: JK03E0010446 kèm 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Trần Thị N1, địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện V. Đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là chị Trần Thị N1 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm a, c khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc V phạm các tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.
- Xử phạt: Trần Quốc V 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển hàng cấm” thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Quốc V phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 (Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2025).
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 bao ni long màu đen kích thước 52 cm x 91 cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2025)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Chung |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V bị phạt 16 tháng tù treo, thủ thách 32 tháng
