Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 12/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lạc

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Xuân Tùng là Thư ký TAND huyện Hạ Hoà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Nam - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. 1- NGUYỄN QUỐC Q, sinh năm 1990 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; nơi cư trú: Khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1950; vợ: Bùi Thị Thu T2, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và có 02 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  2. 2- HOÀNG MẠNH H, sinh năm 1989 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; nơi cư trú: Khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Ngọc Đ (đã chết) và bà: Đặng Thị H1, sinh năm 1956; vợ: Ngân Thị H2, sinh năm 1987 và có 02 người con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  3. 3- NGUYỄN ANH Q1, sinh năm 1980 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; nơi cư trú: Khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Kim Q2, sinh năm 1934 và bà: Lê Thị L, sinh năm 1952; vợ: Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1983 (đã ly hôn); bị cáo không có con; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  4. 4-NGUYỄN QUỐC DŨNG, sinh năm 1971 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; nơi cư trú: Khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Như H3 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T3 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1976 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

  5. 5- ĐÀO MINH TUẤN, sinh năm 1974 tại huyện H, tỉnh Phú thọ; nơi cư trú: Khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Văn T4, sinh năm 1946 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; vợ: Nguyễn Hoài T5, sinh năm 1979 và có 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 22/01/2025 đến ngày 25/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh Q1: Bà Bùi Thị Thanh N1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp Nhà nước tỉnh P (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt theo Quyết định truy tố số 14/QĐ-VKSHH ngày 22/02/2025 của VKSND huyện Hạ Hòa như sau: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 22/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang 05 đối tượng đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền tại phòng ngủ nhà Nguyễn Quốc Q, sinh năm 1990 ở khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, các đối tượng bị bắt gồm: Nguyễn Quốc Q (chủ nhà); Hoàng Mạnh H, sinh năm 1989; Nguyễn Anh Q1, sinh năm 1980; Nguyễn Quốc D, sinh năm 1971 và Đào Minh T6, sinh năm 1974 cùng ở khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 7.160.000 đồng; 01 thảm lông màu tím than và 52 quân bài tú lơ khơ. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và tạm giữ hình sự đối với 05 đối tượng nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Trưa ngày 22/01/2025, Q mời Nguyễn Quốc D, Đào Minh T6, Hoàng Mạnh H, Nguyễn Anh Q1 đến nhà mình ăn cơm, uống rượu. Sau khi ăn uống xong, Q cùng D, T6, Q1 ngồi uống nước tại phòng khách, còn H đi về. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q, D, T6 và Q1 cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Tất cả đồng ý và cùng nhau đi vào phòng ngủ sát với phòng khách nhà Q để đánh bạc. Q lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở trong phòng ngủ để xuống chiếc thảm đã được trải sẵn dưới nền nhà để đánh bạc, các đối tượng thống nhất cách thức đánh bạc như sau: Dùng 52 quân bài tú lơ khơ chia đều cho mỗi người chơi 03 quân, ván đầu tiên thì người chia bài được chọn ngẫu nhiên. Từ ván thứ 2, nếu ai thắng thì được chia bài. Trước khi lên bài người chơi phải đặt cược thấp nhất là 10.000 đồng/01 ván bạc, (gọi là tiền gà), tố mỗi ván cao nhất khống quá 50.000 đồng. Người nào muốn “tố” thì đặt tiền xuống chiếu, người nào không “tố” thì úp bài xuống chiếu, bị xử thua ván đó và mất 10.000 đồng “tiền gà”. Những người theo “tố” thì cộng điểm so sánh để xác định thắng thua. Bài của người nào có điểm cao nhất thì thắng và được cả “tiền gà” và tiền “tố” của ván đó. Quy ước chung quân A bằng 1 điểm, các quân 10, J, Q, K bằng 0 điểm, các quân bài còn lại thì điểm là số ghi trên quân bài. Nếu người chơi có cùng điểm thì xét theo chất theo thứ tự từ thấp đến cao là “Cơ, rô, tép, bích” để xác định thắng thua (các đối tượng sử dụng luật chơi liêng theo kiểu miền nam). Q cùng D, T6, Quyền đánh bạc được một lúc thì Hoàng Mạnh H quay lại và tham gia đánh bạc cùng. Khi tham gia đánh bạc H có 4.000.000 đồng, Q có 1.390.000 đồng, Quyền có 1.000.000 đồng, D có 720.000 đồng, T6 có 50.000 đồng, các đối tượng sử dụng toàn bộ số tiền mình có để đánh bạc và để tiền dưới chiếu bạc tại chỗ ngồi. Tất cả cùng nhau đánh bạc đến 14 giờ 00 phút thì bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện H phát hiện và bắt giữ như đã nêu trên.

Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 7.160.000 đồng (bằng số tiền Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang).

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hạ Hòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng. Đề nghị Chủ tọa căn cứ khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc Q, Hoàng Mạnh H, Nguyễn Anh Q1, Nguyễn Quốc D và Đào Minh T6 phạm tội: Đánh bạc.

Đề nghị xử:

1- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 – BLHS.

Phạt bị cáo Hoàng Mạnh H từ 24 đến 27 tháng cải tạo không giam giữ.

Phạt bị cáo Nguyễn Quốc Q từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ.

Nguyễn Anh Q1 từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

2- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo T6) Điều 51; khoản 1,3 Điều 35 - BLHS.

Phạt Nguyễn Quốc D từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng.

Phạt Đào Minh T6 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.

Nộp ngân sách Nhà nước.

3- Căn cứ khoản 3 Điều 321- BLHS.

Phạt bổ sung bị cáo H số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q, Quyền. Buộc bị cáo H, Q và Q1 thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại điều 36 của Bộ luật hình sự.

4- Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47- BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm đ khoản 2 điều 12; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.160.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ, 01thảm lông màu tím than.

* Về án phí HSST: Các bị cáo Q, H, D, T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Miễn án phí HSST cho bị cáo Nguyễn Anh Q1 vì bị cáo thuộc hộ cận nghèo và đã có đơn đề nghị được miễn.

Người bào chữa cho bị cáo Q1 nhận định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Chủ tọa phiên tòa xem xét cho bị cáo Q1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội được quy định tại điểm i,s khoản 1 điều 51 của BLHS; Đề nghị Chủ tọa phiên tòa xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất, miễn hình phạt bổ sung vì bị cáo là hộ cận nghèo và miễn án phí HSST cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Chủ tọa nhận định:

[1] Lời khai của các bị cáo Q, H, Q1, D và T6 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/01/2025, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 14 giờ 00 phút ngày 22/01/2025, tại phòng ngủ nhà Nguyễn Quốc Q, sinh năm 1990 ở khu I xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quốc Q cùng Hoàng Mạnh H, sinh năm 1989, Nguyễn Anh Q1, sinh năm 1980, Nguyễn Quốc D, sinh năm 1971 và Đào Minh T6, sinh năm 1974 cùng ở khu I, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 7.160.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại điều 321 – BLHS

Khoản 1 điều 321– BLHS quy định: “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

VKSND huyện Hạ Hòa truy tố các bị cáo Q, H, Q1, D và T6 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 – BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là những người khởi xướng đánh bạc. Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã xâm phạm đến an ninh trật tự trên địa bàn, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện H nói riêng, toàn xã hội nói chung. Do đó vụ án cần được đưa ra xét xử thật nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân: Các bị cáo trong vụ án có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Q là chủ nhà, là người chuẩn bị quân bài và tham gia đánh bạc. Các bị cáo trong vụ án đều nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện. Chính vì vậy phải có một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Chủ tọa xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 – BLHS. Chủ tọa xem xét cho bị cáo T6 được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS đó là bị cáo có bố đẻ là ông Đào Văn T4 và mẹ là Nguyễn Thị N có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Các bị cáo Q, H, Q1, D và T6 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Chủ tọa sẽ xem xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Q1.

Xét hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Chủ tọa xét thấy không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo tại địa phương cũng đủ để các bị cáo rèn luyện, cải tạo trở thành con người có ích cho xã hội. Chủ tọa chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H, Q và Q1. Các bị cáo D, T6 áp dụng phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành con người lương thiện.

Xét thấy bị cáo H, Q và Q1 là lao động tự do, thu nhập không ổn định, Chủ tọa không khấu trừ thu nhập của các bị cáo. Nhưng cần thiết phải buộc các bị cáo H, Q và Q1 thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại điều 36 của Bộ luật hình sự và phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo H có tài sản riêng và để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần phạt bổ sung đối với bị cáo H số tiền từ 30-35 triệu đồng; bị cáo Q1 thuộc hộ cận nghèo, bị cáo Q không có tài sản đảm bảo thi hành án, Chủ tọa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Q và Q1. Các bị cáo D, T6 được áp dụng hình phạt chính bằng tiền, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 7.160.000đ các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - 52 quân bài tú lơ khơ và 01tấm thảm lông màu tím là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với bị cáo Q là chủ nhà, là người chuẩn bị công cụ và tham gia đánh bạc cùng các bị cáo, quá trình đánh bạc Q không bố trí người cảnh giới, không thu khoản tiền gì của các đối tượng, quy mô đánh bạc với 01 chiếu bạc dưới 10 người chơi với tổng số tiền đánh bạc dưới 20.000.000 đồng, bản thân bị cáo Q chưa từng bị xử lý về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”.

[8] Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về án phí HSST: Các bị cáo Q, H, D và T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ. Miễn án phí HSST cho bị cáo Q1 vì bị cáo thuộc hộ cận nghèo và đã có đơn đề nghị được miễn án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 điều 321 – BLHS. Xử:

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc Q, Hoàng Mạnh H, Nguyễn Anh Q1, Nguyễn Quốc D và Đào Minh T6 phạm tội “Đánh bạc”.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 36- BLHS.

    Xử phạt:

    • - Bị cáo Hoàng Mạnh H 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo H còn phải chấp hành là 23 (hai mươi ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
    • - Bị cáo Nguyễn Quốc Q 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Q còn phải chấp hành là 17 (mười bảy) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
    • - Bị cáo Nguyễn Anh Q1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo H còn phải chấp hành là 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn Quốc Q và Nguyễn Anh Q1 cho UBND xã H, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.

    Buộc các bị cáo H, Q, Quyền phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn Quốc Q và Nguyễn Anh Q1.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo T6) Điều 51; khoản 1, 3 Điều 35 - BLHS.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc D 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng)

    Xử phạt bị cáo Đào Minh T6 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)

    Nộp ngân sách Nhà nước.

  4. Căn cứ khoản 3 Điều 321 – BLHS

    Phạt bị cáo Hoàng Mạnh H 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47- BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm đ khoản 1 điều 12; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

    • * Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 7.160.000 đồng (bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
    • - Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01 thảm lông màu tím than đã qua sử dụng

    Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản được lập ngày 25/02/2025 của Chi cục THADS huyện H.

    • * Về án phí HSST: Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc Q, Hoàng Mạnh H, Nguyễn Quốc D và Đào Minh T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

    Miễn án phí HSST cho bị cáo Nguyễn Anh Q1.

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - BC; NBC;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở tư pháp Phú Thọ;
  • - UBND xã H;
  • - CCTHADS huyện Hạ Hòa;
  • - Lưu HS -VP

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lạc

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án đánh bạc bị cáo Nguyễn Quốc Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger