Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NDTP HÀ NỘI

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HSST

Ngày 20/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huy Cương.
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuấn; Ông Nguyễn Đình Cất.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Oai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thọ Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 20/03/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Oai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04 /2025/TL.HSST ngày 13/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/HSST – QĐ ngày 19/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Đình L, sinh năm 1990 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Đình L1 và bà Đặng Thị H; Vợ tên là Nguyễn Thị Thanh M; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014;

Tiền sự: Ngày 03/10/2019 Ủy ban nhân dân huyện Q, Hà Nội xử phạt 15.000.000đ về hành vi Tàng trữ công cụ hỗ trợ;

Tiền án: Không;

Bắt phạm tội quả tang ngày 07/07/2024; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/07/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Có mặt.

2. Trần Văn T, sinh năm 1992 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Văn N và bà Trần Thị T1;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 28/08/2020 Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong án phạt tù ngày 21/12/2021);

Bắt truy nã ngày 21/12/2024; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; Có mặt.

2

- Bị hại:

  1. Anh Đoàn Hải T2, sinh năm 2007; Cư trú: Phòng 1736, tòa nhà C, khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  2. Anh Trần Thành Đ, sinh năm 2001; Cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; Vắng mặt.
  3. Anh Lê Xuân D, sinh năm 1998; Cư trú: Thôn P, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Tất T3, sinh năm 1980; Cư trú: Số A, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Vắng mặt.
  5. Anh Đỗ Duy Đ1, sinh năm 2004; Cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
  6. Anh Tô Trung Đ2, sinh năm 2001; Cư trú: Phòng 08A15A, tòa nhà S, khu đô thị V, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ việc không có công việc ổn định nên Trần Đình L sinh năm 1990, trú tại: thôn T, xã P, huyện P, Hà Nội và Trần Văn T sinh năm 1992, trú tại: thôn L, xã P rủ nhau đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trần Đình L chuẩn bị 01 bộ vam phá khóa gồm 01 tay công hình chữ T và 10 đầu vam để làm công cụ trộm cắp tài sản, còn Trần Văn T sử dụng chiếc xe máy Honda Wave màu trắng (không xác định được biển kiểm soát) của T để chở Trần Đình L đi trộm cắp xe máy. Quá trình điều tra làm rõ từ ngày 16/03/2024 đến ngày 07/07/2024, L và T đã thực hiện 06 vụ trộm cắp xe máy trên các địa bàn huyện T, huyện T, quận N - thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 18 giờ ngày 16/03/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng của T chở Trần Đình L đi đến khu chung cư Đ, xã T, huyện T, Hà Nội để trộm cắp tài sản thì phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS 29AX-025.56 của anh Đoàn Hải T2 sinh năm 2007, trú tại phòng 1736, tòa nhà C, khu đô thị Đ, đang dựng tại đường nội bộ đối diện sảnh tòa nhà C khu đô thị Đ, không có ai trông giữ. Sau đó, T đứng ngoài cảnh giới, còn L dùng tay công hình chữ T gắn đầu vam phá được ổ khóa điện, rồi điều khiển xe máy trộm cắp đi về huyện T, Hà Nội. Trên đường đi, L đã tháo biển số xe vứt đi, rồi liên lạc bán chiếc xe trộm cắp được cho Phạm Văn D1 sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên với giá 6.000.000đ. Sau khi mua được xe máy Honda Wave của L, D1 cùng Phạm Đức C sinh năm 2001, hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên mang xe về cửa hàng “Tiệm cháo cao cấp Bé Bin” ở thôn N, xã V, huyện T, Hà Nội cất giấu. Số tiền bán xe Lai, T mỗi người được 3.000.000đ và tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ 01 chiếc xe máy Honda Wave, số khung: RLHJA3930PY089581, số máy: JA70E0121049 (do Công an huyện T bàn giao ngày 06/09/2024).

Đối với chiếc biển kiểm soát 29AX - 025.56. Trần Đình L trình bày sau khi trộm cắp được xe máy tại khu đô thị Đ, xã T, huyện T thì L đã tháo, vứt

3

biển kiểm soát này đi nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có căn cứ truy tìm, thu giữ chiếc biển kiểm soát nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS ngày 29/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave A, biển kiểm soát 29AX - 025.56, số khung RLHJA3930PY089581, số máy JA70E0121049, đã qua sử dụng trị giá 14.500.000₫.

Tại bản Kết luận giám định số 3982/KL-KTHS ngày 06/06/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda Wave. Số khung nguyên thủy RLHJA3930PY089581, số máy nguyên thủy JA70E0121049.

Ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành trao trả chiếc xe máy này cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đoàn Hải T2.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đoàn Hải T2 không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Vụ thứ 2: Khoảng 18 giờ ngày 26/03/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng của T chở Trần Đình L đi đến khu chung cư Đ để trộm cắp tài sản thì phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đỏ BKS 18H1-288.71 của anh Trần Thành Đ sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố D, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định, đang dựng tại đường nội bộ đối diện sảnh tòa nhà C khu đô thị Đ, không có ai trông giữ. Sau đó, T đứng ngoài cảnh giới, còn L dùng tay công hình chữ T gắn đầu vam phá được ổ khóa điện, rồi điều khiển xe máy trộm cắp đi về huyện T. Sau đó L và T bán chiếc xe máy Honda SH BKS 18H1-288.71 cho Phạm Văn D1 với giá 18.000.000đ. D1 trả cho L 16.000.000đ tiền mặt, còn 2.000.000₫ D1 sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 0110158636666 của D1 chuyển tới tài khoản Ngân hàng T5 số 12629031992 của Trần Văn T. Sau khi mua được xe máy Honda SH BKS 18H1-288.71, D1 cùng Phạm Đức C và Nguyễn Hùng T4 sinh năm 2005, hộ khẩu thường trú tại Đ, xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên mang xe về cửa hàng “Tiệm cháo cao cấp Bé Bin” ở thôn N, xã V, huyện T, Hà Nội cất giấu. Số tiền bán xe Tá, L mỗi người được 9.000.000đ và tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i, BKS 18H1-288.71 (do Công an huyện T bàn giao ngày 06/9/2024).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐĐGTS ngày 30/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i BKS 18H1-288.71, số khung RLHJF4211DY095627, số máy JF42E0095317, đã qua sử dụng trị giá 41.000.000₫.

Tại bản Kết luận giám định số 3982/KL-KTHS ngày 06/06/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS 18H1-288.71. Số khung nguyên thủy RLHJF4211DY095627, số máy nguyên thủy JF42E0095317.

Ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành trao trả chiếc xe máy này cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Thành Đ.

4

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Thành Đ không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Vụ thứ 3: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng của T chở Trần Đình L đi trên đường quốc lộ 21B thuộc địa phận huyện T tìm xe máy để trộm cắp. Khi đi đến cửa hàng N1 ở số A, phố V, xã D, huyện T, các đối tượng phát hiện thấy xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu xám đen, số khung RLHJF9538RY163908, số máy JK18E-0417308, chưa đăng ký BKS của anh Lê Xuân D sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã D, huyện T dựng ở trước cửa hàng N1 nhưng không có ai trông giữ. Sau đó, T đứng ngoài cảnh giới, còn L đi đến dùng tay giật mạnh phá được ổ khóa điện xe máy, rồi T điều khiển xe máy Honda Wave đẩy L cùng xe máy Honda SH bỏ đi. Sau khi trộm cắp được xe máy, Trần Đình L liên lạc và bán chiếc xe máy này cho Phạm Văn D1 với giá 25.000.000đ. D1 đã trả tiền mặt cho Trần Văn T số tiền 9.000.000đ, còn lại 16.000.000đ, D1 sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 0110158636666 của D1 chuyển tới tài khoản Ngân hàng M1 số 1992638666666 của Trần Văn T. Sau khi mua được xe máy Honda SH BKS 18H1-288.71, D1 cùng Phạm Đức C và Nguyễn Hùng T4 mang xe về cửa hàng “Tiệm cháo cao cấp Bé Bin” ở thôn N, xã V, huyện T, Hà Nội cất giấu. Số tiền bán xe Lai, T mỗi người được 12.500.000đ và tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu xám đen, không có biển kiểm soát, số khung RLHJF9538RY163908, số máy JK18E-0417308 (do Công an huyện T bàn giao ngày 25/7/2024).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 16/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại JF953 SH 125i màu xám đen, không có biển kiểm soát, số khung RLHJF9538RY163908, số máy JK18E-0417308 mua mới đưa vào sử dụng từ ngày 05/05/2024 có giá 79.000.000₫.

Tại bản Kết luận giám định số 3982/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda SH, không có biển kiểm soát. Số khung nguyên thủy RLHJF9538RY163908, số máy nguyên thủy JK18E-0417308.

Ngày 14/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành trao trả chiếc xe máy này cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Xuân D.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Xuân D không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Vụ thứ 4: Khoảng 19 giờ ngày 30/06/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng của T chở Trần Đình L đi đến khu đô thị V, phường T, quận N, Hà Nội để trộm cắp tài sản thì phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave BKS 18B3-025.99 của anh Nguyễn Tất T3 sinh năm 1980, trú tại số A T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, dựng trước sảnh tòa nhà GS1, không có ai trông giữ. T đứng ngoài cảnh giới, còn L dùng vam phá ổ khóa điện, rồi điều khiển xe máy trộm cắp đi về khu đô thị T, xã C, huyện T. Sau đó, L đã bán chiếc xe máy này cho một người không quen biết được 4.000.000đ. Số tiền này L, T mỗi người được 2.000.000đ và tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: Không.

5

Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐG ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 chiếc xe máy Honda Wave BKS 18B3-02599, số khung: RLHJA3924PY451810, số máy: JA39E3072828, có giá trị 17.850.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tất T3 yêu cầu L, T bồi thường thiệt hại cho T3 với số tiền 17.850.000đ.

Quá trình điều tra Trần Đình L trình bày bán chiếc xe máy Honda Wave BKS 18B3-02599 cho một người không quen biết, không rõ địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh nhân thân, xử lý đối với người đã mua xe máy của L.

Vụ thứ 5: Khoảng 19 giờ ngày 06/07/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng của T chở Trần Đình L đi đến khu đô thị V, phường T, quận N, Hà Nội để trộm cắp tài sản thì phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave BKS 36C2-328.28 của anh Đỗ Duy Đ1 sinh năm 2004, trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, dựng trước sảnh tòa nhà GS1, không có ai trông giữ. T đứng ngoài cảnh giới, còn L dùng vam phá ổ khóa điện, rồi điều khiển xe máy trộm cắp đi về khu đô thị T, xã C, huyện T. Sau đó, L đã bán chiếc xe máy này cho một người không quen biết được 4.000.000đ, số tiền này L, Tá mỗi người được 2.000.000đ và tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ: Không.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐG ngày 08/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 chiếc xe máy Honda Wave BKS 36C2-32828, số khung: RLHJA3924PY419964, số máy: JA39E3033389, có giá trị 17.850.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Duy Đ1 yêu cầu L, T bồi thường thiệt hại với số tiền là 17.850.000đ.

Quá trình điều tra Trần Đình L trình bày bán chiếc xe máy Honda Wave BKS 36C2-328.28 cho một người không quen biết, không rõ địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh nhân thân, xử lý đối với người đã mua xe máy của L.

Vụ thứ 6: Khoảng 18 giờ ngày 07/7/2024, Trần Văn T điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng của T chở Trần Đình L đi đến khu đô thị V, phường T, quận N, Hà Nội để trộm cắp tài sản thì phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave BKS 17B8-423.74 của anh Tô Trung Đ2 sinh năm 2001, trú tại phòng 08A15A, tòa nhà S, khu đô thị V, dựng trước sảnh tòa nhà S203, không có ai trông giữ. T đứng ngoài cảnh giới, còn L dùng vam phá ổ khóa điện. Sau khi phá được ổ khóa xe máy, L đang định dắt đi thì bị Công an phường T phát hiện bắt giữ, còn Trần Văn T bỏ chạy thoát.

Quá trình điều tra, Trần Văn T bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 20/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định truy nã đối với Trần Văn T. Ngày 21/12/2024, Trần Văn T bị Công an quận N bắt theo quyết định truy nã.

Vật chứng thu giữ: Công an quận N, Hà Nội thu giữ: 01 chiếc xe máy Honda Wave BKS 17B8-423.74; 01 tay công phá khóa hình chữ T và 10 đầu vam phá khóa bằng kim loại; 01 điện thoại Galaxy A73 màu xanh, số Imei 1: 352828297939751, Imei 2: 354462617939750 của Trần Đình L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐG ngày 08/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 chiếc xe

6

máy Honda Wave BKS 17B8-423.74, số khung 3923LY019798, số máy JA39E2020827, có giá trị 8.000.000đ.

Tại bản Kết luận giám định số 5958/KL-KTHS ngày 21/08/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Xe máy Honda Wave BKS 17B8-423.74, có số khung 3923LY019798, số máy JA39E2020827 là số nguyên thủy.

Ngày 28/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N tiến hành trao trả chiếc xe máy Honda Wave BKS 17B8-423.74 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Tô Trung Đ2.

Ngày 30/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã bàn giao 01 tay công phá khóa hình chữ T và 10 đầu vam phá khóa bằng kim loại; 01 điện thoại Galaxy A73 màu xanh cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T. Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Oai để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tô Trung Đ2 không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 06/05/2024, Công an xã V, huyện T, Hà Nội, kiểm tra cửa hàng “Tiệm cháo cao cấp Bé Bin” của Phạm Văn D1 phát hiện và thu giữ được chiếc 07 chiếc xe máy, trong đó có 03 chiếc xe máy gồm xe máy Honda Wave, số khung RLHJA3930PY089581, số máy JA70E0121049 (Tang vật vụ thứ 1), xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i BKS 18H1-288.71 (Tang vật vụ số 2), chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJF9538RY163908, số máy JK18E-0417308 (Tang vật vụ thứ 3) mà Phạm Văn D1 đã mua của Trần Đình L, Trần Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã bàn giao 03 chiếc xe máy nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và huyện T để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Văn D1, Phạm Đức C, Nguyễn Hùng T4 là người mua 03 chiếc xe máy do Trần Đình L, Trần Văn T trộm cắp. Hành vi của D1, C, T4 phạm vào tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố đối với Phạm Văn D1, Phạm Đức C, Nguyễn Hùng T4 về hành vi này để điều tra trong vụ án khác nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

L và T thực hiện 06 vụ trộm cắp xe máy trên các địa bàn huyện T, huyện T, quận N - thành phố Hà Nội. Ngày 30/9/2024 và 20/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, huyện T quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra vụ án xảy ra trên các địa bàn quận, huyện nêu trên theo quy định tại khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu trắng (không xác định được biển kiểm soát) của Trần Văn T sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp xe máy. Trần Văn T trình bày mua chiếc xe này vào đầu năm 2024 trên mạng xã hội. Sau khi Trần Đình L bị bắt, T bỏ chạy thoát và sau đó đã bán xe máy cho một người không quen biết, không rõ địa chỉ nên không có căn cứ truy tìm, thu giữ chiếc xe máy nêu trên.

7

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Trần Đình L, Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Các bị cáo không có ý kiến gì về bản cáo trạng; khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra và xin giản nhẹ hình phạt.
  • - Bị hại anh Đỗ Duy Đ1 đề nghị xử lý vụ án theo quy định của pháp luật và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh giá trị xe máy bị trộm cắp là 17.850.000đ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Đình L, Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng và đề nghị:
    • + Xử phạt mỗi bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù.
    • + Truy thu của mỗi bị cáo số tiền hưởng lợi bất chính từ việc bán xe trộm cắp của anh Đoàn Hải T2, anh Trần Thành Đ, anh Lê Xuân D.
    • + Trách nhiệm dân sự: buộc các bị cáo liên đới bồi thường bằng tiền tương đương giá trị xe bị trộm cắp cho anh Nguyễn Tất T3 và anh Đỗ Duy Đ1.
    • + Xử lý vật chứng: tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại; tịch thu tiêu hủy các vật chứng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cơ bản đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; Phù hợp với nhau về việc cùng rủ nhau đi trộm cắp xe máy; Phù hợp lời khai của các bị hại về việc bị mát trộm xe máy và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ việc Trần Đình L và Trần Văn T không có việc làm ổn định nên L và T bàn bạc, rủ nhau đi trộm cắp xe máy để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. L và T phân công nhau: Lai chuẩn bị vam phá khóa gồm 1 tay công hình chữ T và 10 đầu vam; T dùng xe máy của mình chở L di chuyển trên địa bàn thành phố Hà Nội, nếu thấy xe máy không có người trông coi thì L cảnh giới cho T vào phá khóa, lấy xe.

Với thủ đoạn nêu trên, từ ngày 16/03/2024 đến ngày 07/07/2024, L và T đã thực hiện chót lọt 06 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn huyện T, huyện T và quận N, cụ thể như sau:

  • - Vụ thứ nhất: Ngày 16/03/2024, tại đường nội bộ đối diện sảnh tòa nhà C khu đô thị Đ thuộc xã T, huyện T, Hà Nội, lợi dụng không có ai trông coi, L và T đã

8

lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 29AX-025.56 trị giá 14.500.000đ của anh Đoàn Hải T2. Sau khi trộm cắp được xe, L và T bán xe máy cho Phạm Văn D1 được 6.000.000đ, mỗi bị cáo được hưởng lợi 3.000.000đ.

- Vụ thứ hai: Ngày 26/03/2024, tại đường N khu đô thị Đ thuộc xã T, huyện T, Hà Nội, lợi dụng không có ai trông coi, L và T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy Honda SH125i biển kiểm soát 18H1-288.71 trị giá 41.000.000đ của anh Trần Thành Đ. Sau khi trộm cắp được xe, L và T bán xe máy cho Phạm Văn D1 được 18.000.000đ, mỗi bị cáo được hưởng lợi 9.000.000đ.

- Vụ thứ ba: Ngày 05/05/2024, tại trước cửa hàng N1 số 137, phố V, xã D, huyện T, Hà Nội, lợi dụng không có ai trông coi, L và T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy Honda SH125i, chưa đăng ký biển kiểm soát trị giá 79.000.000₫ của anh Lê Xuân D. Sau khi trộm cắp được xe, L và T bán xe máy cho Phạm Văn D1 được 25.000.000đ, mỗi bị cáo được hưởng lợi 12.500.000đ.

- Vụ thứ tư: Ngày 30/06/2024, tại trước sảnh tòa nhà G, khu đô thị V thuộc phường T, quận N, Hà Nội lợi dụng không có ai trông coi, L và T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 18B3-025.99 trị giá 17.850.000đ của anh Nguyễn Tất T3. Sau khi trộm cắp được xe, L và T bán xe máy cho một người không quen biết được 4.000.000đ, mỗi bị cáo được hưởng lợi 2.000.000đ. Hiện không thu hồi được xe bị trộm cắp.

- Vụ thứ năm: Ngày 06/07/2024, tại trước sảnh tòa nhà G, khu đô thị V thuộc phường T, quận N, Hà Nội lợi dụng không có ai trông coi, L và T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 36C2-328.28 trị giá 17.850.000đ của anh Đỗ Duy Đ1. Sau khi trộm cắp được xe, L và T bán xe máy cho một người không quen biết được 4.000.000đ, mỗi bị cáo được hưởng lợi 2.000.000đ. Hiện không thu hồi được xe bị trộm cắp.

- Vụ thứ sáu: Ngày 07/07/2024, tại trước sảnh tòa nhà G, khu đô thị V thuộc phường T, quận N, Hà Nội lợi dụng không có ai trông coi, L và T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 17B8-423.74 trị giá 8.000.000₫ của anh Tô Trung Đ2. Sau khi phá được ổ khóa xe máy, L đang định dắt đi thì bị Công an phường T, quận N, Hà Nội phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Tá bỏ chạy thoát đến ngày 21/12/2024 bị Công an quận N bắt theo quyết định truy nã.

Tổng số xe máy L và T đã trộm cắp có giá trị là 178.200.000đ.

Với hành vi cố ý phạm tội nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Trần Đình L và Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Trần Đình L, Trần Văn T là đồng phạm cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, L và T cùng bàn bạc, phân công nhiệm vụ, L chuẩn bị vam phá khóa và trực tiếp phá khóa, lấy trộm xe; T dùng xe máy của mình chở L và cảnh giới cho L trộm cắp xe máy nên hai bị cáo có vai trò như nhau, do vậy mức hình phạt ngang nhau.

9

Khi lượng hình thấy:

Các bị cáo phạm tội nhiều lần; Nhân thân xấu: Trần Đình L có 01 tiền sự ngoài thời hiệu, Trần Văn T có 01 tiền án đã được xóa án tích. Tuy nhiên tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn nên giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

Trần Đình L bị bắt quả tang ngày 07/07/2024 (bị tạm giữ từ ngày 08/07/2024), Trần Văn T bị bắt truy nã ngày 21/12/2024 (bị tạm giữ từ ngày 22/12/2024). Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì thời hạn chấp hành hình phạt tù của L sẽ được tính từ ngày 07/07/2024, thời hạn chấp hành hình phạt tù của T sẽ được tính từ ngày 21/12/2024.

[3] Biện pháp tư pháp:

  • + Mỗi bị cáo được hưởng lợi bất chính số tiền 24.500.000đ từ việc bán xe máy trộm cắp được của anh Đoàn Hải T2, anh Trần Thành Đ, anh Lê Xuân D cho Phạm Văn D1 nên phải tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền trên.
  • + Trách nhiệm dân sự:
    • . Đối với xe máy trộm cắp của anh Đoàn Hải T2, anh Trần Thành Đ, anh Lê Xuân D, anh Tô Trung Đ2: Cơ quan điều tra đã thu hồi xe bị trộm cắp và trả lại cho các bị hại. Anh Đoàn Hải T2, anh Trần Thành Đ, anh Lê Xuân D, anh Tô Trung Đ2 không yêu cầu bồi thường dân sự gì khác nên không xét.
    • . Đối với xe máy trộm cắp của anh Nguyễn Tất T3, anh Đỗ Duy Đ1, các bị cáo đã bán cho người không quen biết, nay không thu hồi được xe trả bị hại, do vậy các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh T3, anh Đ1 số tiền tương đương giá trị xe, cụ thể:
      • Các bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Tất T3 số tiền 17.850.000₫, chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh T3 số tiền là 8.925.000đ.
      • Các bị cáo phải bồi thường cho anh Đỗ Duy Đ1 số tiền 17.850.000₫, chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Đ1 số tiền là 8.925.000đ.
  • + Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại; Tịch thu tiêu hủy tay công phá khóa, đầu van phá khóa đã thu giữ trong quá trình điều tra.

[4] Đối với hành vi tiêu thụ các xe máy mà L và Tá trộm cắp của Phạm Văn D1, Phạm Đức C, Nguyễn Hùng T4 đã bị xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội theo bản án số 126 ngày 29/11/2024 nên không xem xét trong bản án này.

[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Trần Đình L, Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  3. Xử phạt: Trần Đình L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/07/2024.

  4. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  5. Xử phạt: Trần Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2024.

  6. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều

10

106 Bộ luật tố tụng hình sự:

4.1. Tịch thu sung quỹ Nhà nước mỗi bị cáo số tiền hưởng lợi bất chính là 24.500.000đ (hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

4.2. Trách nhiệm dân sự:

  • . Trần Đình L và Trần Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Tất T3 số tiền 17.850.000đ (mười bẩy triệu tám trăm năm mươi nghìn), chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Tất T3 số tiền là 8.925.000đ (tám triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  • . Trần Đình L và Trần Văn T phải bồi thường cho anh Đỗ Duy Đ1 số tiền 17.850.000đ (mười bẩy triệu tám trăm năm mươi nghìn), chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Đỗ Duy Đ1 số tiền là 8.925.000đ (tám triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  • . Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4.3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại galaxy A73 màu xanh, số Imeil: 352828297939751, số Imei2: 354462617939750; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) tay công phá khóa hình chữ T và 10 (mười) đầu van phá khóa bằng kim loại.

Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai, Hà Nội theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/01/2025.

4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

  • - Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) - án phí hình sự sơ thẩm; 892.500đ (tám trăm chín mươi hai nghìn năm trăm đồng) và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị hại anh Đỗ Duy Đ1 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị hại anh Đoàn Hải T2, anh Trần Thành Đ, anh Lê Xuân D, anh Nguyễn Tất T3, anh Tô Trung Đ2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKS ND huyện Thanh Oai;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THA DS huyện Thanh Oai;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Trại tạm giam số 1 và số 2 CATPHN;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huy Cương

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HSST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 14/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đình L, Trần Văn T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger