Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HSST

Ngày: 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga và bà Nguyễn Thị Lan.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Uyên – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 177/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST – HS ngày 25/12/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 12/8/1997 tại Quảng Ninh.

Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh.

Nghề nghiệp: Cán bộ công an (đã bị tước quân tịch); Trình độ học vấn: 12/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công S và bà Vũ Thị T; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo là Đảng viên Đ3, đã bị khai trừ khỏi Đảng theo Quyết định số 592 ngày 01/11/2024 của Đảng ủy Bộ tư lệnh cảnh sát cơ động.

Bị cáo tại ngoại, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Bạch Ngọc Đ1, sinh năm 1989; Nơi thường trú: thôn I, xã B, huyện B, TP Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • - Bà Phan Thị Hồng V, sinh năm 1990; Nơi thường trú: 37 V, phường L, quận H, TP Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: I, ngõ B T, phường T, quận H, TP Hà Nội (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • - Ông Đoàn Đức T1, sinh năm 1952; Nơi thường trú: Ngõ C, tổ B, phường T, quận H, TP Hà Nội. Nơi ở hiện nay: B, ngõ H, đường N, phường T, quận H, TP Hà Nội (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • - Ông Hà Văn T2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Đ, quận H, TP Hà Nội (là bị án, hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh H).
  • - Ông Nguyễn Đắc Đ2, sinh năm 1981; Địa chỉ: SN B, tổ D, Nhà N, phường Đ, quận H, TP Hà Nội (là bị án, hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh H).
  • - Ông Nguyễn Tiến M, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ A, phường T, quận H, TP Hà Nội (là bị án, hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh H).
  • - Ông Trần Mạnh L, sinh năm 1989; Địa chỉ: phường P, quận Đ, TP Hà Nội là (là bị án, hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh H).

* Người làm chứng:

  • Ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ F, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
  • - Ông Bùi Đức M1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
  • - Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ E, phường Q, TP H, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
  • - Ông Bùi Văn T3, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ E, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
  • - Ông Chu Tuấn H2, sinh năm 1976; Địa chỉ: T, quận Đ, TP Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng Đ là sinh viên khóa K58S chuyên ngành bảo vệ mục tiêu trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, được tiếp nhận và phân công thực tập tại Đội quản giáo - Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 19/6/2023 đến ngày 09/9/2023; Đ được giao nhiệm vụ phối hợp canh gác bảo vệ mục tiêu, phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm tại khu giam K2 (khu giam người bị tử tù) do ông Bùi Đức M1 là quản giáo phụ trách, trực tiếp hướng dẫn.

Khoảng giữa tháng 7/2023, qua nhiều lần tiếp xúc, nói chuyện với người bị kết án tử hình Trần Mạnh L (khu K), khi biết Đ không có tiền để chi tiêu và trả nợ thì L cho biết Nguyễn Đắc Đ2, Nguyễn Tiến M (khu K) là các bị án tử hình nhưng gia đình có điều kiện kinh tế, và gợi ý nếu Đ mang điện thoại cho các bị án này liên lạc thì sẽ được trả tiền để chi tiêu. Sau đó, trong khi thực hiện nhiệm vụ tại khi giam K2, Đ đã nhiều lần đi sang khu K5 để trao đổi, thỏa thuận về việc mang điện thoại vào cho Đ2, M sử dụng để lấy tiền. Phương thức liên lạc như sau: Đ2 cho Đại số điện thoại của anh Bạch Ngọc Đ1 (là bạn của Đ2), cho Đại số điện thoại của chị Phan Thị Hồng V (vợ của M) để liên hệ, nhận tiền. Từ ngày 01/8/2023 đến ngày 06/9/2023, lợi dụng sơ hở lúc cán bộ quản giáo dẫn các phạm nhân tự giác đi lấy cơm, chia cơm buổi chiều hàng ngày, Đ đã 05 lần mang điện thoại di động, phụ kiện kèm theo vào khu giam K5 để đưa cho Nguyễn Đắc Đ2, Nguyễn Tiến M sử dụng, yêu cầu anh Đ1, chị V chuyển tiền cho Đại để chi tiêu, cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 01/8/2023, Đ đến cửa hàng Đ4 ở số H, tổ F, phường T, TP H mua 01 điện thoại động Noki 1280 màu đen, 01 thẻ sim, 01 pin dự phòng và 01 cục sạc hết số tiền 450.000 đồng, mang về để trong phòng nghỉ của Đ ngoài khu giam. Đến khoảng 16 giờ ngày 02/8/2023, Đ mang điện thoại và phụ kiện để vào chiếc cốc trước của buồng giam của Đ2. Sau đó, Đ gọi điện và nhắn tin số tài khoản 1290000459201 của Đ tại Ngân hàng B cho anh Đ1 để yêu cầu chuyển tiền cho Đ. Tối ngày 02/8/2023, Đ nhận được tin nhắn từ Đ2 thông báo điện thoại Đ đưa vào không dùng được. Ngày 04/8/2023, Đ ra cửa hàng điện thoại Việt O đổi lấy 01 điện thoại Nokia khác và mua 01 thẻ sim hết tổng số tiền 780.000 đồng. Cùng ngày, Đ mang điện thoại mới vào cho Đ2 và lấy lại điện thoại cũ cùng phụ kiện trước đó để mang ra ngoài. Đến 17 giờ ngày 04/8/2023, Đ nhận được số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng do anh Đ1 chuyển tiền.

Lần thứ hai: Do Đ2 yêu cầu anh Đ1 gửi điện thoại khác thay cho điện thoại Đ đưa vào. Ngày 05/8/2023, anh Đ1 gửi xe từ Hà Nội đi Hòa Bình cho Đ 01 điện thoại di động đen trắng màu xanh nước biển, 01 cục sạc, 03 pin dự phòng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ mang điện thoại và phụ kiện do Đ1 gửi đưa vào cho Đ2 như lần trước và lấy điện thoại trước đó ra ngoài. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh Đ1 chuyển khoản cho Đại số tiền 11.000.000 đồng. Đến ngày 08/8/2023, Đ1 tiếp tục chuyển khoản cho Đại số tiền 5.000.000 đồng.

Lần thứ ba: Ngày 27/8/2023, Đ nhận được tin nhắn của Đ2 với nội dung anh Đ1 sẽ chuẩn bị thêm 01 chiếc điện thoại di động nữa để Đ mang vào cho Đ2. Cùng ngày, Đ1 gửi xe khách từ Hà Nội đi Hòa Bình cho Đ 01 chiếc điện thoại Nokia đen trắng, màu ghi tím than (không có sim), 01 cục sạc tự chế, 05 pin dự phòng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ tiếp tục mang vào cho Đ2 như các lần trước. Sau đó, đến 17 giờ 45 phút ngày 29/8/2023, Đ nhận được số tiền 2.000.000 đồng do Đ1 chuyển vào tài khoản.

Lần thứ tư: Ngày 04/9/2023, Đ gặp chị V (vợ của Nguyễn Tiến M) tại địa chỉ số B Q, H, Hà nội. Tại đây, chị V đưa cho Đ 01 túi bên trong có 01 điện thoại cảm ứng màu xanh (không có sim), 01 cục sạc, 01 tai nghe, 01 dạo cạo râu để đem vào cho M, chị V chuyển khoảng cho Đại số tiền 2 triệu đồng và hẹn sẽ có người chuyển tiếp 3 triệu đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ đem túi đồ chị V vào đưa cho Đ2 như các lần trước và Đ2 chuyển lại cho Nguyễn Tiến M. Ngày 05/9/2023, Đ nhận được số tiền 3.000.000 đồng từ Ngân hàng V1, chủ tài khoản Đoàn Đức T1 chuyển đến.

Lần thứ năm: Ngày 06/9/2023, Đ2 nhờ Đ mua 01 thẻ sim để truy cập mạnh internet, Đ đến cửa hàng Đ4 mua 01 sim (không nhớ số) và mang vào cho Đ2. Lần này, giữa Đ2 và Đ không thỏa thuận về tiền và Đ cũng không thấy người thân của Đ2 chuyển tiền cho Đ.

Đến ngày 07/9/2023, Đ hết thời gian thực tập trở về trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I và được công nhận tốt nghiệp. Ngày 17/11/2023, Trại tạm giam Công an tỉnh H phát hiện việc Nguyễn Trọng Đ đưa 04 điện thoại, các phụ kiện vào các buồng giam tại khu K để nhận tiền của người nhà bị án, nên đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị án, phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ và kết quả đã thu thập được.

Cáo trạng số 10874/CT-VKSTC-V6 ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố Nguyễn Trọng Đ về tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 điều 355 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hoà Bình giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Trọng Đ phạm tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản", áp dụng điểm c khoản 2 Điều 355; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu, phát mại, sung Ngân sách toàn bộ các điện thoại di động và các vật dụng khác mà bị cáo đã chuyển vào cho các bị án đã bị thu giữ; Đồng thời tịch thu, sung Ngân sách số tiền 28.000.000 đồng bị án đã tự nguyện giao nộp.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ theo Điều 292 và 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  1. [2]. Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lời khai của những người có quyển lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:

Nguyễn Trọng Đ là sinh viên Trường Cao đẳng C1 được tiếp nhận và phân công thực tập tại Đội quản giáo Trại tạm giao Công an tỉnh H, được giao nhiệm vụ trực tiếp phối hợp canh gác bảo vệ mục tiêu, phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm tại khu giam K2. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/8/2023 đến ngày 06/9/2023, Nguyễn Trọng Đ đã lạm dụng quyền hạn, vượt quá công việc được giao, thực hiện 05 lần chuyển điện thoại di động kèm phụ kiện vào buồng giam tại khu K (là khu bị cáo không được phân công nhiệm vụ) cho các bị án tử hình Nguyễn Đắc Đ2, Nguyễn Tiến M sử dụng. Để thực hiện việc này, Đ đã yêu cầu và được nhận số tiền 28.000.000 đồng từ người thân của các bị án, Đ đã dùng số tiền này để chi tiêu cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, gây ảnh hưởng xấu hoạt động của cơ quan Nhà nước, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý sử dụng vượt quá quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao để 5 lần thực hiện hành vi chuyển điện thoại cho các bị án tử hình, thu lợi bất chính số tiền 28.000.000 đồng. Xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố Nguyễn Trọng Đ về tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 điều 355 Bộ luật Hình Sự là có căn cứ, đúng luật định.

  1. [3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Trọng Đ là người có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đã nộp lại số tiền 28.000.000 đồng; Quá trình học tập, công tác bị cáo có nhiều thành tích, được Tư lệnh Cảnh sát cơ động tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở vì có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong phòng trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” năm 2018, được Hiệu trưởng trường Cao đẳng C2 và Ban Bộ C3 tặng giấy khen, bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác Đoàn; Gia đình bị cáo có công với cách mạng, ông nội của bị cáo là Nguyễn Việt C đã tham gia kháng chiến chống Thực dân Pháp và được hưởng chế độ thương, bệnh binh. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của khoản 2 Điều 355 và trong khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 355 của Bộ luật hình sự, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta.

  1. [4]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà, xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  1. [5]. Đối với số tiền 28.000.000 đồng mà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chuyển vào tài khoản cho bị cáo Đ, bị cáo Đ được hưởng lợi từ hành vi phạm tội cụ thể: anh Bạch Ngọc Đ1 chuyển qua các lần là 21.000.000 đồng; chị Phan Thị Hồng V chuyển cho bị cáo số tiền 2.000.000 đồng; số tài khoản mang tên ông Đoàn Đức T1 chuyển cho bị cáo 3.000.000 đồng. Mặc dù trong quá trình điều tra thể hiện những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khi chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo Đ không biết bị cáo sử dụng tiền vào mục đích gì. Tuy nhiên, giữa bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có mối quan hệ quen biết, không có ràng buộc nào về các giao dịch dân sự. Bị cáo Đại thừa nhận số tiền trên được hưởng lợi từ hành vi vi phạm và tự nguyện giao nộp trong quá trình điều tra. Do đó, cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền trên.
  1. [6] Đối với Nguyễn Đắc Đ2, Nguyễn Tiến M đã có hành vi sử dụng điện thoại di động trong buồng giam và liên hệ với người nhà, gia đình để chuyển tiền cho bị cáo Đ. Ngày 20/11/2023 và ngày 21/11/2023, Trại tạm giam Công an tỉnh H đã ra Quyết định kỷ luật, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với Trần Mạnh L, Hà Văn T2 là các bị án tử hình trong các khu giam K5 và K2 nhưng không sử dụng điện thoại, trong quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nên không đề cập.

Đối với ông Bạch Ngọc Đ1, chị Phan Thị Hồng V và ông Đoàn Đức T1 đã thực hiện việc chuyển tiền và gửi điện thoại cho bị cáo. Xét thấy những người này thực hiện theo yêu cầu của các bị án, không biết lý do và mục đích chuyển tiền giữa các bị án và bị cáo Đ. Do đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cáo không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với ông Bùi Ngọc H – Đội trưởng đội quản giáo; ông Bùi Đức M1 – người hướng dẫn thực tập bị cáo; ông Bùi Văn H1 – tổ trưởng khu giam K5 (đến ngày 14/8/2023) và ông Bùi Văn T3 - tổ trưởng khu giam K5 (từ ngày 14/8/2023 đến ngày 09/9/2023 đều không biết việc bị cáo mang điện thoại và phụ kiện kèm theo vào khu giam K5 để đưa cho bị án Nguyễn Đắc Đ2 và Nguyễn Tiến M sử dụng. Do đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cáo không đề cập xử lý là có cơ sở.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử kiến nghị công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Trại tạm giam - Công an tỉnh H3, cần đề ra biện pháp phòng ngừa các vụ việc để tránh xảy ra vi phạm.

  1. [7]. Về xử lý vật chứng:
  • Đối với 04 điện thoại di động các loại kèm sạc, pin dự phòng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội 05 lần chuyển điện thoại và các phương tiện khác cho các bị án tử tù, xét thấy đều liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu, phát mại, sung công.
  • - Đối với số tiền 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng) bị cáo Đại tự N giao nộp tại Cơ quan điều tra, xét là số tiền do bị cáo hưởng lợi bất chính từ hành vi vi phạm pháp luật, nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
  1. [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 355; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Trọng Đ 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên:

2.1. Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước:

- Số tiền 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng).

(Theo Biên lai thu tiền số: 0000224 lập ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình).

2.2. Tịch thu, phát mại, sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động N1 không có sim, 04 (bốn) pin rời, 02 (hai) sạc pin thu giữ của Nguyễn Đắc Đ2. Được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của Trại tạm giam Công an tỉnh H và chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong;
  • - 01 (một) điện thoại di động màu xanh loại cảm ứng, có 01 (một) sim, 01 (một) tai nghe, 01 (một) dây sạc, 02 (Hai) pin rời thu giữ của Nguyễn Tiến M. Được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong, mép dán niêm phong có dấu tròn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong;
  • - 01 (một) điện thoại di động Nokia vỏ màu xanh, 01 (một) pin rời màu vàng, 01 (một) sạc thu giữ của Hà Văn T2. Được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mép dán niêm phong có dấu đỏ của Trại tạm giam Công an tỉnh H và chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong;
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 7, imei: 355847080751782, không xác định tình trạng máy, không có thẻ sim, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Đắc Đ2. Được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong, mép dán niêm phong có dấu tròn của Trại tạm giam Công an tỉnh H và chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong;

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 28 BB/2025 ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình)

3. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND TP HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Công an tỉnh HB;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án TP HB;
  • - Bị cáo, Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa




Đỗ Thị Quỳnh Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH về lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger