Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HSST

Ngày 19/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Huy Bân, ông Nguyễn Thế Long

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 2 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 04/02/2025 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc D, sinh năm 1989;

Nơi thường trú: Thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở hiện nay: số nhà F, đường T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989; Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/8/2024 đến ngày 26/9/2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi cục thuế khu vực T2;

    Địa chỉ: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân S - Chi cục trưởng.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng H1 – Đội trưởng Đội kiểm tra thuế số 02, Chi cục thuế khu vực T2 - Y (xin vắng mặt).

  2. Công ty TNHH T3;

    Địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc D – Giám đốc (có mặt).

  3. Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1958, (có mặt);

    Trú tại: Thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/02/2024, Chi cục thuế khu vực T2 có Công văn số 998 chuyển thông tin về tội phạm đối với 08 Công ty trên địa bàn huyện Y có liên quan đến Công ty TNHH C có địa chỉ tại tổ G, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ vì có dấu hiệu mua, bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y cùng các tài liệu có liên quan. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã điều tra, làm rõ được nội dung vụ án như sau:

Công ty TNHH T3 thành lập năm 2022 do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh B cấp giấy phép đăng ký lần đầu ngày ngày 15/11/2022, mã số doanh nghiệp là 2301225441do Phạm Ngọc D,sinh năm 1989 có địa chỉ thường trú tại thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh là người đại diện theo pháp luật, đăng ký nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực T2 – Y, hình thức kê khai nộp thuế giá trị gia tăng (sau đây viết tắt là GTGT): Khấu trừ. Tài khoản mở tại ngân hàng C1, chi nhánh T4, Bắc Ninh: tài khoản số [...].

Trong năm 2023, D có quen biết với Lê Thị Hương G, sinh năm 1981, trú tại tổ G, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi gặp D, G giới thiệu là kế toán Công ty TNHH C, có địa chỉ tại tổ G, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, chuyên bán vật liệu xây dựng.

Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2023, D đã mua của G 08 hóa đơn giá trị gia tăng có viết nội dung để hợp thức hóa hàng hóa là vật liệu xây dựng mua trôi nổi trên thị trường để trốn thuế với giá 9,5%/tổng giá trị tiền hàng chưa thuế.

Về cách thức giao dịch, D gọi điện thoại hoặc gặp trực tiếp G để trao đổi thông tin cần ghi trên hóa đơn. Sau đó, G gặp và đưa hóa đơn GTGT kèm theo tài liệu, chứng từ có liên quan cho D tại huyện Y. D xuất bán hàng hóa cùng hóa đơn GTGT của Công ty T3 cho các Công ty trong và ngoài địa bàn tỉnh Bắc Ninh với thuế GTGT là 10%. Sau khi nhận được các hóa đơn, chứng từ thì D thực hiện việc chuyển khoản tiền hàng cho Công ty C theo số tiền ghi trên hóa đơn, trong đó 9,5% thuế GTGT/tổng tiền hàng là tiền của D, còn G đưa cho D số tiền còn lại để D chuyển vào tài khoản của Công ty C. Hiện D đã kê khai và được Chi cục thuế khu vực T2 – Y khấu trừ thuế GTGT. Cụ thể:

Ngày 10/01/2023, D ký hợp đồng nguyên tắc số 01/2023/HĐNT/TL-CA với Công ty C và mua 08 hóa đơn GTGT không kèm hàng hóa gồm:

  • Hóa đơn GTGT số: 68 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 19/5/2023, tên hàng hóa là: Cát đen; tổng số tiền hàng chưa thuế là 818.450.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 73 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 25/5/2023, tên hàng hóa là: Cát đen; tổng số tiền hàng chưa thuế là 820.000.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 104 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 23/6/2023 tên hàng hóa là: Cát đen; tổng số tiền hàng chưa thuế là 667.200.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 135 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 22/7/2023 tên hàng hóa là: Cát đen; tổng số tiền hàng chưa thuế là 860.000.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 202 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 13/11/2023 tên hàng hóa là: Cát; tổng số tiền hàng chưa thuế là 2.106.520.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 214 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 12/12/2023 tên hàng hóa là: Cát; tổng số tiền hàng chưa thuế là 764.500.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 231 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 29/12/2023 tên hàng hóa là: Cát đen tổng số tiền hàng chưa thuế là 1.783.250.000 đồng.
  • Hóa đơn GTGT số: 239 ký hiệu: 1C23TPT; Ngày 30/12/2023 tên hàng hóa là: Cát; tổng số tiền hàng chưa thuế là 129.600.000 đồng.

Tổng số tiền hàng chưa thuế của 08 hóa đơn trên là 7.949.520.000 đồng.

Sau khi hợp thức hàng hóa, nguyên liệu đầu vào, Phạm Ngọc D xuất bán hàng hóa kèm theo hóa đơn GTGT cho các Công ty cụ thể:

  • Công ty cổ phần N có địa chỉ tại tầng 18, tòa nhà N, đường N, KĐT D, L, H, Hà Nội, ông Trần Văn Đ là tổng giám đốc với 02 hóa đơn GTGT số 48 ngày 11/12/2023 và số 22 ngày 17/8/2023 tên hàng hóa là: Cát đen, tổng số tiền hàng chưa thuế là 1.675.265.000 đồng.
  • Công ty TNHH V có địa chỉ tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Văn K làm giám đốc với 01 hóa đơn GTGT số 09 ngày 25/5/2023 tên hàng hóa là: Cát đen, tổng tiền hàng chưa thuế 1.596.000.000 đồng.
  • Công ty cổ phần Đ1 có điạ chỉ tại thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh do ông Trần Quang H2 làm giám đốc với 01 hóa đơn GTGT số 12 ngày 30/06/2023 tên hàng hóa là: Cát đen,tổng tiền hàng chưa thuế là 519.885.000 đồng.
  • Công ty Cổ phần Đ2 có địa chỉ tại số I ngách A ngõ T, đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội do ông Trần Quốc H3 làm giám đốc với 02 hóa đơn GTGT số 50 ngày 15/12/2023 và hóa đơn số 53 ngày 30/12/2023 tên hàng hóa là: Cát san nền, tổng tiền hàng chưa thuế là 2.504.340.000 đồng.
  • Công ty TNHH T5 có địa chỉ tại tầng D chung cư C, đường L, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh với 03 hóa đơn GTGT, số 19 ngày 12/8/2023 tên hàng hóa là: Cát đen; số 20 ngày 12/8/2023 tên hàng hóa là: Cát đen, cát vàng; số 27 ngày 12/9/2023 tên hàng hóa là: Cát vàng, tổng tiền hàng chưa thuế là 423.695.454 đồng.
  • Công ty Cổ phần X1 có địa chỉ tại tầng 3, tòa nhà N, khu N, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội với 01 hóa đơn GTGT số 01 ngày 27/12/2023 tên hàng hóa là: Cát đen, tổng tiền hàng chưa thuế 1.334.072.727 đồng.
  • Công ty TNHH T6 có địa chỉ tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh với 01 hóa đơn GTGT số 02 ngày 19/01/2024 tên hàng hóa là: Cát xây, tổng tiền hàng chưa thuế 116.474.820 đồng.

Các công ty trên (trừ Công ty Cổ phần X1) đều trình bày đều trình bày việc mua bán với Công ty T3 đều là có hàng hóa kèm theo hóa đơn GTGT. Riêng Công ty X1, hiện Cơ quan điều tra không làm việc được với giám đốc Công ty do không có mặt tại địa phương.

Tại Kết luận giám định ngày 18/7/2024 của Cục thuế tỉnh B kết luận:

  • * Về thuế giá trị gia tăng (GTGT): Công ty TNHH T3 đã sử dụng 8 số hóa đơn GTGT (không có hàng hóa dịch vụ đi kèm) không đủ điều kiện khấu trừ thuế là 794.952.000 đồng. Công ty T3 đã sử dụng không hợp pháp 08 số hóa đơn GTGT khống nêu trên để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đã dẫn đến giảm số thuế GTGT phải nộp số tiền 359.223.055 đồng, tăng số thuế GTGT còn được khấu trừ số tiền là 435.728.945 đồng Công ty TNHH T3 có hành vi trốn thuế GTGT, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền 359.223.055 đồng.
  • Không có đủ cơ sở để xác định số tiền thuế TNDN Công ty T3 đã trốn, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước.
  • * Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Không có đủ cơ sở để xác định số tiền thuế TNDN Công ty T3 đã trốn, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước.

Ngày 13/8/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành khám xét trụ sở Công ty T3 tại thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nhưng không thu giữ được gì liên quan đến hành vi phạm tội. Phạm Ngọc D đã tự nguyện giao nộp 01 dấu tròn đỏ của Công ty TNHH T3, 01 dấu chức danh giám đốc Phạm Ngọc D, 08 hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty C cùng hợp đồng nguyên tắc, các tờ khai thuế GTGT và bảng kê mua vào, bán ra năm 2023; hóa đơn bán ra cùng sổ phụ ngân hàng tài khoản của Công ty T3.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 26/9/2024 ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1958, trú tại thôn L, xã D, huyện Y là bố bị cáo D được D tác động đã tự nguyện nộp số tiền 359.223.055 đồng khắc phục tiền trốn thuế. Ông T không yêu cầu D phải hoàn trả ông số tiền này.

Tại Bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-YP ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc D về tội “Trốn thuế” theo điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo D khai:

Công ty TNHH T3 thành lập năm 2022 do Phạm Ngọc D,sinh năm 1989 có địa chỉ thường trú tại thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh là người đại diện theo pháp luật. Trong năm 2023, Công ty TNHH T3 mua hóa đơn GTGT khống về hàng hóa dịch vụ sau đó hợp thức hóa nguồn hàng hóa trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn chứng từ rồi bán cho các Công ty có nhu cầu mua để hạch toán chi phí kinh doanh, quyết toán thuế nhằm mục đích trốn thuế. D đã mua tổng cộng 08 hóa đơn khống của Công ty TNHH C sau đó bán cho 07 Công ty: Công ty cổ phần N, Công ty TNHH V, Công ty cổ phần Đ1, Công ty Cổ phần Đ2, Công ty TNHH T5, Công ty Cổ phần X1, Công ty TNHH T6.

Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D phạm tội “Trốn thuế”.
  • Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:

    Phạt tiền bị cáo Phạm Ngọc D từ 500.000.000 đồng đến 550.000.000 đồng, sung Ngân sách Nhà nước.

  • Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 359.223.055 đồng thu lợi bất chính của D. Xác nhận ông Phạm Ngọc T là bố đẻ của bị cáo D đã nộp 359.223.055 đồng vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Y số: 3949090473769 tại kho bạc nhà nước huyện Y. Ông T không yêu cầu bị cáo D phải hoàn trả ông số tiền này.

    Trả lại cho Công ty TNHH T3: 01 Dấu tròn đỏ của Công ty TNHH T3; 01 Dấu chức danh Giám đốc Công ty.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên PhonT2).

    Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD hỏi cung bị cáo.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáothành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Phạm Ngọc D là giám đốc Công ty TNHH T3 có trụ sở tại thôn L, xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã mua tổng số 08 hóa đơn GTGT khống đã viết nội dung, không có hàng hóa kèm theo của Công ty TNHH C. Tổng giá trị tiền hàng ghi trên 08 hóa đơn là là 7.949.520.000 đồng. D mua 08 số hóa đơn trên với giá 9,5%/tổng giá trị tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn với tổng số tiền là 755.204.400 đồng. Mục đích của D là để hợp thức hóa hàng hóa đầu vào không có hóa đơn, chứng từ để kê khai, khấu trừ thuế GTGT nhằm trốn thuế. Theo Kết luận giám định của Cục thuế tỉnh B hành vi trốn thuế giá trị gia tăng của Công ty TNHH T3 đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 359.223.055 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Phạm Ngọc D có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của của bị cáo Phạm Ngọc D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là chế độ quản lý của Nhà nước về thuế, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước trong việc thu thuế, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo D để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo D đã tác động gia đình để nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính 359.223.055 đồng. Bị cáo Phạm Ngọc D có ông nội là ông Phạm Ngọc T1 là người có công với cách mạng. Ông Phạm Ngọc T1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Như vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền là phù hợp quy định pháp luật hiện nay và cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo D là 359.223.055 đồng, cần truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền này. Xác nhận ông Phạm Ngọc T là bố đẻ bị cáo D đã tự nguyện nộp thay bị cáo D 359.223.055 đồng vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Y tại Kho bạc Nhà nước huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, hiện đã được chuyển sang tài khoản của Chi cục THA Dân sự huyện T2.

[3] Về các vấn đề khác:

Anh Ngô Văn Q là kế toán của Công ty T3 có làm thủ tục kê khai, quyết toán thuế cho Công ty. Tuy nhiên, anh Q không được D bàn bạc và không biết việc D mua bán hóa đơn không có hàng hóa. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp pháp luật.

Đối với Công ty X1, hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được với giám đốc Công ty, vì vậy chưa làm rõ được việc mua bán với Công ty T3 có hàng hóa hay không. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Công ty C đã xuất hóa đơn khống cho Công ty T3, quá trình điều tra ngày 12/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã quyết định Bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự “Mua bán trái phép hóa đơn”; Ngày 14/12/2024 Công an huyện Y ra quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.

Đối với Lê Thị Hương G có hành vi bán 08 hóa đơn GTGT đã viết nội dung không có hàng hóa cho Phạm Ngọc D, quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã triệu tập nhiều lần nhưng G không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra tách hành vi của G để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[4] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D phạm tội “Trốn thuế”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:

    Phạt tiền bị cáo Phạm Ngọc D 500.000.000 đồng ( Năm trăm triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

  3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 359.223.055 đồng tại tài khoản số 3949.0.1055128.00000 của Chi cục THA Dân sự huyện T2 theo ủy nhiệm chi số 01.25 ngày 24/01/2025 của Công an huyện Y.

    Trả lại cho Công ty TNHH T3: 01 Dấu tròn đỏ của Công ty TNHH T3; 01 Dấu chức danh Giám đốc Công ty.

    Lưu hồ sơ 01 đĩa DVD ghi âm hỏi cung bị cáo Phạm Ngọc D.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Ngọc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./..

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về trốn thuế

  • Số bản án: 14/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc D phạm tội Trốn thuế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger