Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – BẮC NINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày 29/10/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nghiêm Đình Chế .
  2. Ông Nguyễn Thế Long.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Huyền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 29/10/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS, ngày 10/10/2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS, ngày 15/10/2025 đối với bị cáo:

Ngô Văn T, sinh năm 2001 tại Bắc Ninh.

Nơi thường trú: Tổ dân phố L, xã X, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn C, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1977; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26/10/2016, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp đưa vào trường G, thời hạn 06 tháng, ngày 01/5/2017 chấp hành xong; tại Bản án số 47/2021/HSST ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 19/01/2023, T chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/7/2025, tại phòng 206, nhà trọ P ở thôn Ấ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh do chị Nguyễn Thị Hoài L, sinh năm 2006, trú tại: Thôn Đ, xã C, tỉnh Thanh Hóa thuê trọ tổ công tác Đội 5, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Ngô Văn T, sinh năm 2001, trú tại: Tổ dân phố L, xã X, tỉnh Bắc Ninh đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

- Tại túi quần phía trước bên trái của T 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu T1

- Trên mặt tủ đựng đồ 01 hộp giấy màu trắng bên trên mặt hộp có ghi chữ "CODUBAI", bên trong hộp có 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa các viên nén màu đỏ, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu T1. T khai nhận đây là số ma túy "đá" và "ngựa" của T để sử dụng.

Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng rồi đưa T về trụ sở làm việc.

Kết quả kiểm tra nước tiểu Ngô Văn T dương tính với chất ma túy Methamphetamine, chị L âm tính với các chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1512/KLGĐ-PC09 ngày 24/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“- Chất tinh thể màu trắng gửi giám định bên trong phong bì thư ký hiệu T có khối lượng là 0,1326 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

- 02 (hai) viên nén màu đỏ gửi giám định bên trong phong bì thư ký hiệu T có khối lượng là 0,1936 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng gửi giám định bên trong phong bì thư ký hiệu T1 có khối lượng là 1,8020 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

- Các viên nén màu đỏ gửi giám định bên trong phong bì thư ký hiệu T1 có khối lượng là 0,4738 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine Thắng tàng trữ là 2,602 gam.

Với nội dung trên tại, bản Cáo trạng số 81/CT-VKSKV7-BN ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã truy tố Ngô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, hiện đang ở cùng bạn gái là chị Nguyễn Thị Hoài L, ở phòng trọ số 206, nhà trọ Phương M, quản lý nhà trọ là anh Bùi Thế H, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã N, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 15 giờ ngày 22/7/2025, T đi đến khu vực đê xã Y gần bến đò Gầm thì gặp một người thanh niên không quen biết. T hỏi người này: “Anh có biết chỗ mua ma túy đá không?”. Người thanh niên trả lời: “Có”. Sau đó, T đưa cho người thanh niên số tiền 1.000.000 đồng bảo mua hộ T ma túy "đá", "ngựa". Người đàn ông cầm tiền của T rồi một lúc sau quay lại đưa cho T 03 túi nilon gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 05 viên nén màu đỏ. T mang số ma túy này về phòng trọ số 206 của chị L ở thôn Ấ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. Khi T về đến nơi thì chị L đang ngủ, T cất 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng trong túi quần phía trước bên trái đang mặc; cất 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 05 viên nén màu đỏ trong hộp giấy màu trắng bên trên mặt hộp có ghi chữ "CODUBAI" rồi để hộp lên mặt tủ đựng đồ trong phòng, T không nói cho chị L biết. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, khi T đang ở trong phòng 206 thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Ngô Văn T từ 50 tháng tù đến 54 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2025. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo

V1 vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư dán kín.

Bị cáo nhận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và phù hợp với không gian, thời gian, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật đã thu giữ, kết quả giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 22/7/2025, tại phòng 206, nhà trọ Phương M địa chỉ: Thôn Ấ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Đội 5, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Ngô Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,602 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Ngô Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh truy tố với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý đối với các chất gây nghiện nói chung và ma túy nói riêng của nhà nước. Bị cáo hoàn toàn ý thức được mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng dân cư và gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như là nguyên nhân lây truyền các loại bệnh xã hội trong đó có HIV và AIDS. Xét thấy cần xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma tuý và đã bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp đưa vào trường G, thời hạn 06 tháng; bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự mặc dù bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Song cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì xét thấy sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Đối với người thanh niên bán ma túy cho T ở khu vực đê xã Y nhưng T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị Hoài L là người thuê phòng 206 và anh Bùi Thế H là quản lý nhà trọ Phương M, chị L, anh H không biết việc T cất giấu trái phép chất ma túy trong phòng và T cũng không nói cho chị L biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý số vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ. Cụ thể: Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Ngô Văn T 50 (năm mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/7/2025.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 02 phong bì thư niêm phong dán kín đựng mẫu vật còn lại sau giám định, đã được Phòng K công an tỉnh B niêm phong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2025 giữa Công an tỉnh B và Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nghiêm Đình ChếNgô Thị Thu Hiền
Nguyễn Thế Long

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND KV7 - Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Ngô Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn Thắng - TTMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger