Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH LỢI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 28-5-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Hạnh - Cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Bà Trần Thị Phương Anh - Cán bộ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Chí Công - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Hoàng T, sinh ngày 13/6/2006 tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Khóm E, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn D (đã chết) và bà Lữ Kim H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, ngày 16/01/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.250.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo đang chấp hành cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
  2. Phan Vũ A, tuổi: Bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số: 16/KLGĐĐT-C09B ngày 24/01/2025 của Trung tâm Pháp y thành phố C xác định Phan Vũ A có độ tuổi từ 17 năm 03 tháng đến 17 năm 09 tháng (tại thời điểm giám định ngày 24/01/2025); tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 28/7/2024 được 17 năm 03 tháng, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định (sống lang thang); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành M (đã chết) và bà Quảng Thị Hồng N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam L – Bộ C (có mặt).

- Bị hại: Ông Diệp Hoàng N1, sinh ngày 23/02/1990. Nơi cư trú: Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Phan Vũ A: Ông Châu Phi Đ là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Vũ A: Anh Ngô Vĩnh T1 là Cán bộ Đoàn Thanh niên huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thạch Tuấn A1 sinh ngày 21/01/2010, đang học nghề sửa xe và được ông Diệp Hoàng N1 (chủ sở hữu của G) cho ở nhờ tại GARAGE H thuộc ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Vào khoảng 23 giờ ngày 27/7/2024, Tuấn A1 rủ Đặng Hoàng T và Phan Vũ A đến GARAGE H chơi. Do có ý định lấy trộm các dụng cụ sửa xe tại GARAGE H, Hoàng T mang theo 01 (một) cây kiềm cộng lực và 02 (hai) đoạn kim loại dùng cạy lốp xe, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94AB-001.33 chở Vũ A đến gặp Tuấn A1. Đến khoảng 02 giờ ngày 28/7/2024, tại GARAGE H, lợi dụng việc không có người trông giữ tài sản, Hoàng T đã rủ Tuấn A1 và Vũ A lấy trộm các dụng cụ sửa xe của ông Diệp Hoàng N1 tại GARAGE bán lấy tiền chia nhau chi xài cá nhân. Tất cả đồng ý, Tuấn A1 lấy 02 (hai) ổ khóa tại G để Hoàng T và Tuấn A1 dùng kìm cộng lực (do Hoàng T mang theo) cắt khoen móc khóa với mục đích tạo hiện trường giả, tránh sự nghi ngờ của ông Hoàng N1 đối với Tuấn A1. Sau khi lấy trộm các dụng cụ sửa xe, Hoàng T và Vũ A mang đi cất giấu tại nhà của Hoàng T thuộc khóm E, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tại khu đất trống thuộc khóm G, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, chờ thời gian thích hợp để đi tiêu thụ.

Đến khoảng 09 giờ ngày 28/7/2024, sau khi phát hiện mất trộm tài sản tại GARAGE H, ông Diệp Hoàng N1 đã trình báo sự việc đến Công an.

Qua làm việc với Thạch Tuấn A1, Cơ quan Công an đã triệu tập Đặng Hoàng T và Phan Vũ A, thu giữ các tài liệu, đồ vật ông Diệp Hoàng N1 mất trộm gồm: 01 (một) bộ máy bơm hơi (bình nén, máy bơm và môtơ đã qua sử dụng); 01 (một) súng bắn hơi màu vàng - đen hiệu Japan đã qua sử dụng; 01 (một) máy rửa xe màu xanh hiệu Nasuko đã qua sử dụng; 01 (một) máy cắt cầm tay màu vàng - đen đã qua sử dụng; 01 (một) máy khoan cầm tay hiệu Pefa đã qua sử dụng; 01 (một) con đội màu đỏ đã qua sử dụng; các phụ tùng sửa xe gồm: 01 (một) bộ đầu ống tuýp gồm 31 món (đầu lục giác và tay cầm vặn) đã qua sử dụng, 01 (một) thước kẹp màu trắng hiệu “Centuky” đã qua sử dụng, 01 (một) kìm bấm màu trắng hiệu “ToTal” đã qua sử dụng, 06 (sáu) cây lục giác (05mm-10mm) đã qua sử dụng, 03 (ba) cây chuyển tuýp và 01 đầu lắc kéo chuyển tuýp đã qua sử dụng, 01 (một) cây búa nhổ đinh đã qua sử dụng, 11 (mười một) cây cờ - lê nhãn hiệu “Yeti” đã qua sử dụng, 01 (một) cây tuýp tự động bằng kim loại ½ đã qua sử dụng, 01 (một) cây tuýp tự động bằng kim loại 3/8 đã qua sử dụng, 02 (hai) cây Vít hiệu “Total” đã qua sử dụng; 01 (một) cây Vít hiệu “tone” đã qua sử dụng; 03 (ba) đầu tuýp hiệu “Yeti” (10, 14, 22mm) đã qua sử dụng; 01 (một) cây kìm cộng lực đã qua sử dụng; 02 (hai) ổ khóa, mỗi ổ khóa đều bị cắt khoen móc khóa; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 94AB-001.33.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu kết luận: Đối với các tài sản do Đặng Hoàng T, Phan Vũ A và Thạch Tuấn A1 lấy trộm của ông Diệp Hoàng N1 vào ngày 28/7/2024, có tổng giá trị thành tiền là 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 58, 90, 91, 98 và 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Vũ A từ 04 tháng đến 06 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử về tội cướp giật tài sản với mức hình phạt 02 năm 03 tháng tù. Bị cáo Phan Vũ A phải chấp hành 02 bản án từ 02 năm 07 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 11/10/2024.

Về vật chứng: Ông Diệp Hoàng N1 đã nhận lại tài sản; đối với hai ổ khóa bị cắt hoen móc khóa, ông Diệp Hoàng N1 không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Về án phí: Bị cáo Đặng Hoàng T, bị cáo Phan Vũ A, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Vũ A là anh Ngô Vĩnh T1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị cáo Phan Vũ A. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn cũng như không được sự chăm sóc tốt nên bị cáo Phan Vũ A đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Phan Vũ A.

* Người bào chữa cho bị cáo Phan Vũ A là Trợ giúp viên pháp lý Châu Phi Đ trình bày: Bị cáo Phan Vũ A đã thừa nhận hành vi phạm tội nên không có ý kiến khác về tội danh mà bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là bộc phát, nhất thời dẫn đến việc phạm tội. Hoàn cảnh gia đình khó khăn và thiếu sự quan tâm sâu sát từ gia đình là một phần nguyên nhân dẫn đến thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Tại thời điểm bị khởi tố bị cáo Phan Vũ A trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Phan Vũ A luôn thành khẩn khai báo, rất ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ Luật Hình sự cho bị cáo Phan Vũ A được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị hại ông Diệp Hoàng N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, bị hại ông Diệp Hoàng N1 đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt tại phiên tòa của ông Diệp Hoàng N1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Diệp Hoàng N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, động cơ tư lợi bất chính. Vào khoảng 02 giờ ngày 28/7/2024, bị cáo Đặng Hoàng T, bị cáo Phan Vũ A và anh Thạch Tuấn A1 đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là các dụng cụ sửa xe của ông Diệp Hoàng N1 tại GARAGE H thuộc ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Tổng giá trị tài sản trộm cắp qua định giá là: 4.400.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Phan Vũ A là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý nên đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Theo Điều 173 Bộ luật Hình sự thì:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính mà các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo ý thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác và để phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Hoàng T là người xúi giục bị cáo Phan Vũ A chưa đủ 18 tuổi phạm tội nên bị cáo Đặng Hoàng T phải chịu tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phan Vũ A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đặng Hoàng T có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra và xét xử, bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

[6] Xét thấy, bị cáo Đặng Hoàng T là người rủ rê, xúi giục bị cáo Phan Vũ A nên bị cáo Phan Vũ A có mức hình phạt thấp hơn bị cáo Đặng Hoàng T. Bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm có tính chấp giản đơn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Phan Vũ A là người chưa đủ 18 tuổi nên cần xem xét, áp dụng các Điều 90, 91, 98 và 101 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Phan Vũ A.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Diệp Hoàng N1 đã nhận lại tài sản; đối với hai ổ khóa bị cắt hoen móc khóa, ông Diệp Hoàng N1 không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Đối với: Các tài sản là dụng cụ sửa xe mà bị cáo Đặng Hoàng T, bị cáo Phan Vũ A và Thạch Tuấn A1 lấy trộm của ông Diệp Hoàng N1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
  • - Đối với: 01 (một) xe gắn máy biển kiểm soát 94AB -001.33 thuộc quyền quản lý hợp pháp của bà Lữ Kim H (mẹ ruột của bị cáo Đặng Hoàng T), bà Lữ Kim H không biết việc bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe gắn máy cho bà Lữ Kim H là có căn cứ.
  • - Đối với: 01 (một) cây kìm cộng lực đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội; 02 (hai) ổ khóa, mỗi ổ khóa đều bị cắt khoen móc khóa không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với Thạch Tuấn A1 thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có độ tuổi 14 tuổi 06 tháng 07 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý trách nhiệm hình sự và chuyển Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Áp khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[11] Các ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa như đã phân tích có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Phan Vũ A như đã phân tích, không có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 58, 90, 91, 98 và 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan vũ A 04 (Bốn) tháng tù.

    Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử về tội cướp giật tài sản với mức hình phạt 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Bị cáo Phan Vũ A phải chấp hành chung 02 bản án là 02 (Hai) năm 07 (B) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 11 tháng 10 năm 2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) cây kiềm cộng lực, đã qua sử dụng; 02 (Hai) ổ khóa đã bị cắt móc khoen khóa, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2005).

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
  4. Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại khác có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Vĩnh Lợi;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Lợi;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện cho bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HSVA; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hồng Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Hoàng T và bị cáo Phan Vũ A phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger