|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày: 27/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo;
Ông Phạm Tám;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Phương Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Đức- Kiểm sát viên.
Ngày 27/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 11/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST- HS ngày 12/02/2025 đối với:
- Bị cáo: Trương Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1993 tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: tự do. Học vấn: lớp 06/12. Nơi cư trú: thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Họ và tên cha: Trương Văn B; sinh năm: 1967. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H; sinh năm: 1968. Tiền án, tiền sự: không có.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Văn B; sinh năm: 1967; địa chỉ: thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/8/2024, Trương Văn T mượn xe mô tô biển số 79V1 – 188.95 của ông Trương Văn B (cha của T) đi chơi. Sau đó, T điều khiển xe đến khu vực Lầu G ở thành phố N, tỉnh Khánh Hòa gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy “đá” và 500.000 đồng ma túy “heroin” để sử dụng cho cá nhân. Sau đó, T đã lấy một phần trong số ma túy này sử dụng rồi cất giữ phần còn lại để sử dụng tiếp.
Tối ngày 25/8/2024, T một mình điều khiển xe mô tô 79V1 – 188.95 mang số ma túy còn lại đến khu vực đường bê tông cạnh trường T1 ở thôn T, xã V, huyện V để tiếp tục sử dụng. Lúc này, Công an xã V tuần tra thấy T có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính và phát hiện trong túi quần của T đang mặc có 05 (năm) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là ma túy, 01 (một) túi ni lông màu trắng trong được hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất nghi là ma túy. Công an xã V đã đưa T và tang vật về trụ sở làm việc. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy vào ngày 25/8/2024 ghi nhận T dương tính với chất ma túy trong cơ thể (nhóm chất ma túy MET và MOR).
Tại kết luận giám định số 538/2024/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- + Chất bột nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A (gồm 05 (năm) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột nén màu trắng) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5473 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- + Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu B (gồm 01 (một) túi ni lông màu trắng trong được hàn kín và 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu đều chứa tinh thể màu trắng) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1610 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- Ông Trương Văn B không có ý kiến về nội dung vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam. Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/8/2024, tại thôn T, xã V, huyện V, bị cáo Trương Văn T đã tàng trữ trái phép 02 chất ma túy với tổng khối lượng 0,7083 gam (Không phẩy bảy không tám ba gam); gồm 0,5473 gam Heroine và 0,1610 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho cá nhân.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Cáo trạng số 09/CT-VKS-NT ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo về hành vi và tội danh như trên trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Việc sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Vì vậy cần thiết phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, áp dụng hình phạt có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- - 05 (năm) đoạn ống hút nước bằng nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, cùng kích thước (2,1x1)cm, bên trong chứa 0,5473 gam chất ma túy, loại Heroine: Đã sử dụng hết khi giám định.
- - 01 (một) túi ni lông màu trắng trong được hàn kín kích thước (3x1)cm và 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng hàn kín hai đầu kích thước (1,6x1)cm, bên trong chứa 0,1610 gam chất ma túy, loại Methamphetamine: Đã sử dụng hết khi giám định;
- - 01 (một) xe mô tô biển số 79V1 – 188.95: Đã trả lại cho ông Trương Văn B. Ông B đã nhận lại xe mô tô này và không có yêu cầu gì về dân sự.
[5] Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực Lầu G thuộc thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch của đối tượng này nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo 02 năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Lãm |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T tàng trữ trái phép chất ma tuý
