TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 03 năm 2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Tại điểm cầu trung tâm:
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và ông Hà Đức Trưởng;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên;
- Có mặt tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh P):
- - Đại diện Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Tạ Đình M – Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Quốc H – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 03 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa trực tuyến tại 02 (hai) điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; 01 (một) điểm cầu thành phần, tại Trại tạm giam Công an tỉnh P để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST- HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng L (tên gọi khác: không);
Sinh ngày 14 tháng 7 năm 1977; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi Đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Bùi Thị N, sinh năm 1945;
Vợ: Hứa Thị H1, sinh năm 1979; Con: Có: 03 con (lớn 20 tuổi, nhỏ 9 tuổi);
- Tiền án: Bản án số 17/2023/HS-ST ngày 25/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Hồng L 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị can đã chấp hành xong hình phạt ngày 13/01/2024 (Bị cáo chưa đương nhiên được xóa án tích);
- Tiền sự: Không;
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2024, đến ngày 03/01/2025, chuyển tạm giam, hiện đang thi hành Lệnh tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt tại điểm cầu trại tạm giam).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đinh Đức T, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Trú tại: Khu D, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Vào hồi 11 giờ 00 ngày 27/12/2024 tại khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện T phát hiện Nguyễn Hồng L có dấu hiệu của việc tàng trữ trái phép chất ma tuý. Qua kiểm tra phát hiện tại túi áo khoác phía bên trái của Nguyễn Hồng L đang mặc có 02 gói giấy mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu
trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột cục màu trắng, L khai nhận đó là Ma tuý (H2), L mua về để sử dụng nhưng chưa kịp dùng. Công an huyện T lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Hồng L về trụ sở để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Nguyễn Hồng L đã khai nhận: Do bản thân bị nghiện ma túy, nên khoảng 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, L mượn xe mô tô BKS 19K9-4110 của anh Đinh Đức T, đi từ chỗ làm ở khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến thị xã S, Thành phố Hà Nội để mua Ma tuý về sử dụng. Khi đi đến Thị xã S gặp người phụ nữ tên T1, L đặt vấn đề mua 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), L đưa tiền qua khe cửa, sau đó bà T1 đưa lại cho L 02 gói giấy. Mua bán xong L điều khiển xe về chỗ làm, khi đi đến khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác yêu cầu dừng lại kiểm tra, phát hiện thu giữ 02 gói ma tuý trên.
Ngày 28/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 514 đối với vật chứng đã thu giữ của Nguyễn Hồng L. Tại bản Kết luận giám định số 05 ngày 02/01/2025 của phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy đều có đặc điểm mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu trắng trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,447gam, là ma tuý loại: Heroine (heroin)”.
Heroine (H) là chất ma túy, có số thứ tự 09, Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Sau khi nhận mẫu giám định, Phòng K Công an tỉnh P đã hoàn trả: 0,324gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được dán kín, niêm phong trong một bì giấy, bên ngoài có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 05 dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hồng L đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất Ma túy như đã nêu trên. Lời khai của L phù hợp với các chứng cứ được Cơ quan điều tra Công an huyện T thu thập, xác lập có trong hồ sơ vụ án.
- Các vấn đề khác của vụ án:
Trên cơ sở điều tra và kết luật giám định chất Ma túy, ngày 02/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố Bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Hồng L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (“dưới đây viết tắt là BLHS năm 2015”). Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn đã phê chuẩn Quyết định khởi tố Bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Hồng L.
Về tài sản của Bị cáo: Quá trình xác minh xác định Nguyễn Hồng L là đối tượng nghiện chất Ma túy, nghề nghiệp lao động tự do, thường xuyên đi khỏi địa phương. Bản thân Bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị, ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân.
Đối với anh Đinh Đức T là người đã cho Nguyễn Hồng L mượn xe máy, do anh T không biết mục đích của L nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý.
Đối với người phụ nữ tên T1: Quá trình điều tra L khai báo đây là người đã bán ma túy cho L, nhưng chỉ biết tên T1, sinh sống tại số nhà D, ngõ A, phường S, thị xã S, thành Phố Hà Nội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không đủ căn cứ để xử lý.
- Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số: 14/CT– VKS – TS ngày 04/3/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Nguyễn Hồng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Bị cáo Nguyễn Hồng L từ 48 (bốn mươi tám) đến 54 (năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 28/12/2024).
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Hồng L.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- + Tịch thu để tiêu hủy: 0,324 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói sau giám định được dán kín, niêm phong trong 01 bì giấy, bên ngoài có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P.
- + Xác nhận: Ngày 22/02/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại chiếc xe mô tô kiểm soát 19K9 - 4110 cho anh Đinh Đức T.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc Bị cáo Nguyễn Hồng L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với Biên bản kiểm tra, Biên bản giữ người trong trường hợp phạm khẩn cấp, Kết luận giám định, đồng thời phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 00 ngày 27/12/2024 tại khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện T phát hiện Nguyễn Hồng L, sinh năm 1977, trú tại: khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép 0,447 gam ma túy, loại: Heroine với mục đích để sử dụng.
Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Bị cáo đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của cá nhân vẫn cố ý thực hiện
Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Nguyễn Hồng L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Cụ thể:
- “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của Bị cáo nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặt khác, ma tuý là chất gây nghiện, nó đầu độc
hệ thần kinh con người, là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các loại phạm tội khác gây nguy hại cho xã hội. Mặc dù có đầy đủ nhận thức để biết tác hại của Ma túy nhưng Bị cáo lại bất chấp quy định của pháp luật vẫn cố ý tàng trữ trái phép để sử dụng. Do đó, hành vi của Bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 17/2023/HS-ST ngày 25/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Hồng L 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 13/01/2024. Tính đến ngày phạm tội, Bị cáo chưa được xóa án tích, do đó, Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của BLHS năm 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội; Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn C đã được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Ba, mẹ đẻ là bà Bùi Thị N được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Do đó, Bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo là nghiêm trọng, vì nhu cầu cá nhân Bị cáo đã bất chấp hậu quả xấu có thể gây ra cho bản thân và xã hội; Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo cũng đã bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phọ xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặc dù chưa được xóa án tích, nhưng Bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tương tự như lần phạm tội trước đó. Mặt khác, lượng ma túy mà Bị cáo tàng trữ (0,447 gam) gần tương đương với định lượng tối đa được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của BLHS năm 2015.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng khoản 1, Điều 38 của Bộ luật hình sự đưa ra hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục Bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đưa ra mức hình phạt tương
xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Tại biên bản xác minh ngày 28/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã xác định: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị, thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[4] Đối với người phụ nữ đã bán Ma túy cho Bị cáo: Quá trình điều tra Lam khai báo, chỉ biết người bán tên là T1, sinh sống tại số nhà D, ngõ A, phường S, thị xã S, thành Phố Hà Nội, khi mua bán, Ma túy giao qua khe cửa hẹp nên không biết mặt.
Ngày 27/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Thị T1, sinh năm: 1961, HKTT: số nhà D, ngõ A, phường S, thị xã S, thành Phố Hà Nội, quá trình khám xét Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án; Cơ quan điều tra đã triệu tập Phùng Thị T1, Phùng Nhật L1 là chủ hộ để tiến hành đối chất và xác minh làm rõ. Tuy nhiên, quá trình xác minh, không xác định người bán trái phép chất ma tuý cho L là ai, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định làm rõ và xử lý đối với đối tượng bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Hồng L.
[5] Việc anh Đinh Đức T cho Bị cáo mượn phương tiện: Bị cáo dùng xe mô tô của anh Đinh Đức T để mua Ma túy, khi mượn, anh T không biết Bị cáo dùng vào việc gì, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không để cập xử lý là phù hợp.
[6] Đối với số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) Bị cáo dùng để mua ma túy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo xác định đây là
khoản tiền do lao động mà có. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Ma túy (H) là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Xác nhận: Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 19K9 - 4110 Nguyễn Hồng L dùng để làm phương tiện đi mua ma tuý, chiếc xe trên là của anh Đinh Đức T, sinh năm: 1978, HKTT: Khu D, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ, ngày 27/12/2024, L mượn xe của anh T để đi mua ma tuý, tuy nhiên anh T không biết. Cơ quan điều tra xác minh, tra cứu xe máy trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, tại bản thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng số: 101 ngày 20/02/2025 của Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P xác định chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ kết tội, tội danh:
- - Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015;
- - Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- - Xử phạt Bị cáo Nguyễn Hồng L 54 (năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 28/12/2024).
- Về xử lý vật chứng:
- - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Hồng L.
- - Áp dụng điểm c, khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu để tiêu hủy: 0,324 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói sau giám định được dán kín, niêm phong trong 01 bì giấy, bên ngoài có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P.
- - Xác nhận: Ngày 22/02/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Đinh Đức T 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 19K9 – 4110, màu sơn xanh, xe đã qua sử dụng.
Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 14/3/2025.
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc Bị cáo Nguyễn Hồng L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tân Khải Nhân |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSST
