trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 21/3/2025

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Hóa

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Văn Ngọc

Bà Đào Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Thị L; Không có tên gọi khác;

Sinh ngày 15 tháng 9 năm 1985;Tại: T, Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân Tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P, sinh năm 1955; con bà: Lò Thị N, sinh năm 1955. Gia đình bị cáo có 04 chị em ruột. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Có chồng: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1984 và 02 con: Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 tại Trại tạm giam công an tỉnh L đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

  1. Anh Lý Văn T, sinh năm 1989, địa chỉ: bản T, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do)
  2. Anh Hoàng Hoa B, sinh năm 2008, địa chỉ tại bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do).

Người đại diện của Hoàng Hoa B anh Hoàng Văn Đ sinh năm 1984, địa chỉ tại bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2024 bị cáo Lò Thị L trú tại bản Cò Lá, T2 mua được 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu với giá 200.000 đồng của Đình Công L1 sinh năm: 1967 trú tại bản Cò Lá, TT T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Mua được ma túy bị cáo đi về nhà chia làm 3 phần, 1 phần bị cáo sử dụng hết bằng hình thức hít, 02 phần còn lại bị cáo gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu để bán kiếm lời. Trong ngày 15/12/2024 tại nơi ở của mình thuộc bản C, thị trấn T, huyện T, bị cáo đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Lý Văn T sinh năm 1989 trú tại bản Thèn Thầu, xã B như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, Lý Văn T sinh năm: 1989, trú tại: Bản T, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu đến nhà bị cáo hỏi mua ma túy, gặp bị cáo ở phòng khách T đưa cho bị cáo 100.000 đồng và hỏi mua ma túy của bị cáo, bị cáo đồng ý bán, cầm tiền T đưa bị cáo cất tiền vào túi áo bên phải đang mặc sau đó đi vào buồng ngủ lấy 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu bán cho T. Bán ma tuý cho T xong bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến thị trấn T tiêu xài hết số tiền có được do bán ma túy mà có. Còn Lý Văn T thấy bị cáo đi ra ngoài Trương tự ý đi vào nhà vệ sinh của bị cáo sử dụng hết số ma túy vừa mua được bằng hình thức hít.

Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 15/12/2024 Lý Văn T đến nhà bị cáo để mua ma tuý sử dụng cho bản thân, đến nơi gặp bị cáo ở phòng khách (Tại phòng khách có bị cáo và Hoàng Hoa B, sinh ngày 14/4/2008 con trai của bị cáo. Thấy T đến B đi vào buồng ngủ) qua trao đổi Trương mua được của bị cáo 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu với giá 100.000 đồng, mua được ma túy Trương xin bị cáo cho sử dụng trái phép chất ma tuý tại nơi ở của bị cáo, bị cáo không đồng ý cho T sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình. Sau đó bị cáo đi vào phòng ngủ, còn Lý Văn T mặc dù bị cáo không đồng ý cho T sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình nhưng T vẫn tự ý đi vào nhà vệ sinh của nhà bị cáo sử dụng hết số ma tuý vừa mua được bằng hình thức hít. Khi T vừa sử dụng xong ma tuý tại nhà vệ sinh thì Công an thị trấn T phối hợp cùng Công an xã B đến kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện T đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an thu giữ 01 bật lửa gas màu đỏ - đen, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, T khai vừa mua ma tuý của bị cáo để sử dụng, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lý Văn Trương .

Cùng ngày 15/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật đối với bị cáo: Quá trình khám xét bị cáo đã tự nguyện giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng do bán trái phép chất ma túy mà có và 42,5 ml Methadone đựng trong chai nhựa trong suốt. Nguồn gốc số Methadone bị cáo khai nhận vào khoảng tháng 11/2024 (Bị cáo không nhớ rõ ngày) bị cáo gặp và mua được của Lường Văn K sinh năm: 1971 trú tại bản B, thị trấn T, huyện T với giá 100.000 đồng để sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa kịp thực hiện thì bị cơ quan công an khám xét, thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngày 22/01/2025 cơ quan CSĐT công an huyện T lập biên bản làm việc với Trung tâm y tế huyện T xác định bị cáo Lò Thị L không sử dụng và điều trị Methadol.

Ngày 15/12/2024 Công an huyên T kiểm tra chất ma túy đối với Lý Văn T, Lò Thị L. Kết quả: Dương tính với chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số: 14/KL-KTHS, ngày 22/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có mã số hiệu PL 20244920 gửi giám định là tiền thật.

Tại bản kết luận giám định số: 9992/KL-KTHS, ngày 26/12/2024 của V - Bộ C1, kết luận: Mẫu dung dịch màu đỏ trong chai nhựa gửi giám định là dung dịch ma tuý (Methadone); thể tích mẫu: 42,5 ml; nồng độ Methadone trong mẫu là 0,820 mg/ml. Khối lượng chất ma tuý trong mẫu: 0,034 gam.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSTĐ, ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lò Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Thị L từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 Mảnh nilon màu xanh, một mảnh giấy bạc đã bị đốt; 01 bật lửa gas màu đỏ - đen; 01 chai nhựa không có nhãn mác, nắp chai màu đen, bên trong chai chứa 42,5ml dung dịch màu đỏ (Methadone) đã gửi giám định 7,5ml còn lại 35ml. Tịnh thu nộp ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 100. 000 đồng; truy thu số tiền 100.000 đồng của bị cáo Lò Thị L.

Bị cáo Lò Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lò Thị L không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Lò Thị L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Thị L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Trong ngày 15/12/2024 tại nơi ở của mình thuộc bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Lò Thị L đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lý Văn T sinh năm 1989 trú tại bản Thèn Thầu, xã B như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, bị cáo bán trái phép 01 gói ma túy gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu cho Lý Văn T lấy 100.000 đồng, mua được Heroine Trương đã sử dụng hết bằng hình thức hít.

Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo tiếp tục bán trái phép 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu cho Lý Văn T lấy 100.000 đồng, mua được Heroine Trương đã sử dụng hết bằng hình thức hít tại nhà vệ sinh của L, khi T đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị tổ công tác công an xã B phối hợp cùng công an thị trấn T phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ trái phép 42,5ml ma tuý loại Methadone có khối lượng 0,034 gam nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Lò Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Có căn cứ chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lò Thị L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ đẻ là Lò Thị N được Ban tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển của phụ nữ Việt Nam; Chủ nhiệm ủy ban D tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển các dân tộc số; Bộ Y tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp dân số đã có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp dân số - kế hoạch hoá gia đình; Hội người cao tuổi Việt Nam tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi Việt Nam; UBND tỉnh L tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng - Bảo vệ Lai C. Bố đẻ là ông Lò Văn P là người có công với cách mạng được Bộ 1 chứng nhận tham gia dân công hảo tuyến số 402/QĐ-BTL ngày 13/6/2017. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 52 BLHS.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,b,s khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với: 01 Mảnh nilon màu xanh, một mảnh giấy bạc đã bị đốt; 01 bật lửa gas màu đỏ - đen; 01 chai nhựa không có nhãn mác, nắp chai màu đen, bên trong chai chứa 42,5ml dung dịch màu đỏ (Methadone) đã gửi giám định 7,5ml còn lại 35ml là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Lò Thị L. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tiền do bị cáo Lò Thị L thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, Lò Thị L đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Lý Văn T với giá 100.000 đồng. Số tiền trên L đã tiêu xài cá nhân hết, đây là khoản thu lời bất chính từ việc phạm tội mà có. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLSh, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền trên.

[6] Những vấn đề liên quan:

Đối với Lý Văn T: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T vào ngày 15/12/2024 tại nhà của bị cáo đây là hành vi vi phạm hành chính. Ngày 22/12/2024 Công an thị trấn T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Văn T bằng hình thức cảnh cáo.

Theo lời khai của bị cáo nguồn gốc số Heroine bị cáo mua của Đinh Công L2 vào ngày 15/12/2024, số Methadon bị cáo mua của Lường Văn K vào tháng 11/2024. Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T tiến hành khám xét người, nơi ở, đồ vật, tài liệu tại nhà Đinh Công L2, Lường Văn K nhưng không thu giữ gì. Triệu tập, lấy lời khai, đối chất giữa L và L2, K đều không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho L, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý Đinh Công L2, Lường Văn K về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với Hoàng Hoa B sinh ngày 14/4/2008 khi Lý Văn T đến hỏi mua ma tuý vào hồi 19 giờ ngày 15/12/2024, B không biết bị cáo bán ma tuý cho Lý Văn T nên B không đồng phạm với bị cáo L về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Vào ngày 15/12/2024 Lý Văn T đã 02 lần sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà vệ sinh của bị cáo. Quá trình điều tra xác định: Việc T sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của bị cáo, bị cáokhông biết, không đồng ý. Lần thứ nhất T không xin phép mà tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của bị cáo, lần thứ hai khi Trương xin sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo không đồng ý nhưng T vẫn tự ý sử dụng. Vì vậy bị cáo L không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

[7] Án phí: Bị cáo Lò Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b,c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Thị L 7 (Bảy) năm 8 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/12/2024.
  3. Về vật chứng của vụ án:

    Tịch thu tiêu huỷ: 01 Mảnh nilon màu xanh, một mảnh giấy bạc đã bị đốt; 01 bật lửa gas màu đỏ - đen; 01 chai nhựa không có nhãn mác, nắp chai màu đen, bên trong chai chứa 42,5ml dung dịch màu đỏ (Methadone) đã gửi giám định 7,5ml còn lại 35ml các vật chứng hiện đang được bảo quản, quản lý tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 100. 000 đồng đang bảo quản tại tại chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

    Truy thu số tiền 100.000 đồng của bị cáo Lò Thị L.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).

  4. Về án phí: Bị cáo Lò Thị L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này, lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - Chi Cục THADS huyện Tam Đường;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cao Thị Hóa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger