TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 14/2025/HS-ST Ngày 24 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thảo và ông Lê Anh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 24/3/2025 tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 10/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 11/3/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức L; sinh ngày 18/6/1974; nơi sinh: Xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1954; vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: có 06 tiền án, cụ thể:
Ngày 23/5/1996, bị TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về các tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa; Cưỡng đoạt tài sản của công dân; Trộm cắp tài sản của công dân; Cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân; Gây rối trật tự công cộng, theo Bản án số 06/ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2001).
Ngày 17/10/2001, bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản, theo bản án số 54/HSST.
Ngày 14/02/2003, bị TAND thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 03 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam, theo Bản án số 11/HSST. Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành tại bản án số 54/HSST ngày 17/10/2001 của TAND tỉnh Hà Tĩnh, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm 09 tháng 24 ngày.
Ngày 23/4/2003, bị TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo Bản án số 09/HSST. Tổng hợp hình phạt với bản án số 11/HSST ngày 14/02/2003 của TAND thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình buộc phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm 03 tháng 24 ngày.
Ngày 27/4/2004, bị TAND tỉnh Nghệ An xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Tổng hợp với hình phạt bản án số 09/HSST ngày 23/4/2003 của TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh buộc phải chấp hành hình phạt chung là 16 năm 02 tháng 24 ngày. Đã chấp hành xong hình phạt tù của 04 bản án vào ngày 10/02/2019.
Ngày 25/5/2022, bị TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, theo Bản án số 19/2022/HS-ST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2024.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Hương Khê:
- Bị hại:
Anh Lê Hữu T1; sinh năm 1991; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
Anh Lê Hữu V; sinh năm 1984; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị V1; sinh năm 1979; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Kiều Xuân T2, sinh năm 1992; chị Phạm Thị Hồng T3, sinh năm 1998; đều địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều vắng mặt.
Anh Cao Hồng B; sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
Cháu Phan Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 22/4/2008 (người đại diện ông Phan Ngọc H1); địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều có mặt.
Cháu Trần Hồng P, sinh ngày 09/8/2008 (người đại diện bà Nguyễn Thị N); địa chỉ: Thôn E, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều vắng mặt.
Chị Phan Lê Vân A, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa: Trung tá Bùi Thiên T4 - Tổ trưởng; Thượng úy Nguyễn Đình Q và Hạ sỹ Đào Ngọc Q1, Tổ Cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Công an tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 09/7/2024, Nguyễn Đức L cùng với anh Lê Hữu T1, anh Lê Hữu V và anh Cao Hồng B cùng trú tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đến quán N1 ở thị trấn H uống bia. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, cả nhóm đến quán K ở tổ dân phố F, thị trấn H hát Karaoke. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/7/2024 cả nhóm hát Karaoke xong, thì anh Cao Hồng B đi về nhà còn Nguyễn Đức L cùng với anh Lê Hữu V và anh Lê Hữu T1 đi bộ sang quán ăn của anh Kiều Xuân T2 ở phía đối diện quán K ăn cháo. Trong lúc ăn, L hỏi T1 “em có tiền đó không” thì T1 trả lời “anh hỏi tiền nong làm chỉ” (anh T1 cho rằng L hỏi có ý mượn tiền nên từ chối không cho mượn; còn L thì cho rằng mục đích hỏi T1 có tiền trả không để L trả tiền cháo cho), nên L bực tức cho rằng T1 ít tuổi mà hỗn láo với mình nên nảy sinh đánh T1. Sau đó, L đứng dậy đi ra phía đường H đi vệ sinh, nhìn thấy một thanh gỗ hình hộp (dạng chân ghế cũ bị gãy) có kích thước khoảng 40 x 3,5 x 2 cm. L cầm thanh gỗ trên tay phải, đi đến sau lưng anh T1 đánh một cái trúng vào đầu anh T1 làm thanh gỗ gãy đôi rơi một phần tại hiện trường, phần còn lại L vẫn cầm trên tay. Thấy vậy, Lê Hữu V lao vào can ngăn nhưng L tiếp tục cầm thanh gỗ trên tay phải đánh liên tiếp 03 cái vào vùng đầu mặt anh T1 làm anh T1 ngã xuống đất. Anh Lê Hữu V tiếp tục can ngăn không cho L đánh anh T1 thì L tiếp tục dùng chân phải đá một cái trúng vùng đầu anh T1, rồi cầm thanh gỗ đi khỏi hiện trường. Sau khi bị đánh, anh Lê Hữu T1 đứng dậy dùng tay ôm vết thương còn anh Lê Hữu V cởi áo của mình lau vết thương cho anh T1. Khoảng 01 phút sau, khi anh V đang lau vết thương cho anh T1, Nguyễn Đức L tiếp tục cầm thanh gỗ trên tay phải quay lại thì bị anh Lê Hữu V căn ngăn không cho L tiếp tục đánh anh T1 thì L dùng chân phải đạp một cái trúng vào bụng anh V, đồng thời cầm thanh gỗ trên tay phải đánh một cái trúng vùng mặt anh V làm anh V bị thương. Anh Lê Hữu V xô đẩy L đi ra phía đường H, nên L đi một lúc thì quay lại thấy anh T1 và anh V đang đứng lau vết thương nên L cầm theo thanh gỗ rời khỏi hiện trường và L vứt thanh gỗ bên đường trên đường đi về nhà. Anh Lê Hữu T1 và anh Lê Hữu V được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện H cấp cứu và điều trị. Do anh Lê Hữu T1 bị thương nặng nên chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H và Bệnh viện M tại Hà Nội tiếp tục điều trị.
Sau khi đánh anh Lê Hữu T1 và anh Lê Hữu V thì Nguyễn Đức L bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 06/01/2025 L đến Công an huyện H đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận giám định số 246/LKTTCT-TTPY&GĐYK ngày 16/8/2024 của Trung tâm P1 thuộc Sở Y tế tỉnh H, kết luận xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Hữu T1 tại thời điểm giám định: Vùng đỉnh chẩm bên phải sẹo vết thương kích thước 4,8 cm x 0,3 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; Mí mắt trái sẹo vết thương kích thước 02 cm x 03 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; Chấn thương mắt trái: Vỡ nhãn cầu phải kẹt, mất tổ chức nội nhãn đã được phẫu thuật, hiện tại mắt trái mất chức năng, thị lực sáng tối (-), tỷ lệ tổn thương cơ thể là 41%. Áp dụng phương pháp cộng xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 44%. Thương tích do vật tày có cạnh tác động vào gây nên.
Tại bản Kết luận giám định số 247/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 16/8/2024 của Trung tâm P1 thuộc Sở Y tế tỉnh H, kết luận xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Hữu V tại thời điểm giám định: Vùng trán sẹo vết thương kích thước 2,7 cm x 0,3 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; Vùng má thái dương bên trái cách mép ngoài mắt trái 01 cm sẹo vết thương kích thước 2,8 cm x 0,3 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%; Mắt sau 1/3 giữa cánh tay trái sẹo vết thương kích thước 4,8cm x 0,5 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; Mạng sườn bên trái 03 vết bầm dối sắc tố da: Vết thương kích thước 04 cm x 0,5 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%; vết giữa kích thước 03 cm x 0,5 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%; vết ngoài kích thước 03 cm x 0,5 cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%. Mu bàn tay trái vết xước da khám hiện tại không để lại vết tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 0%. Áp dụng phương pháp cộng xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 09%. Thương tích do vật tày có cạnh tác động vào gây nên.
Về vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường 01 thanh gỗ kích thước 20x3,5x2cm, hiện đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự bảo quản chờ xử lý. Đối với phần thanh gỗ còn lại trên đường về nhà bị cáo vứt lại bên đường nhưng không nhớ vị trí cụ thể, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không xác định được để thu giữ.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Lê Hữu T1 yêu cầu bồi thường số tiền 200.000.000 đồng; bị hại anh Lê Hữu V yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo tác động tới gia đình (em gái là chị Nguyễn Thị V1) đã bồi thường đầy đủ số tiền theo yêu cầu của các bị hại. Hiện các bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-HK ngày 28/02/2025 của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 20/3/2025 bị hại anh Lê Hữu V có đơn xin miễn truy cứu hình sự, đề nghị đình chỉ vụ án gửi Tòa án.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Đức L khai nhận hành vi của mình như nội dung trên. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự hối hận, xin lỗi các bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được cải tạo sớm trở về chăm sóc mẹ già.
Bị hại anh Lê Hữu V trình bày trước khi mở phiên tòa có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo; đồng thời, đã được gia đình bị cáo bồi thường xong thiệt hại nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị hại anh Lê Hữu T1 trình bày hai bên đã thỏa thuận xong phần dân sự nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị V1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn lại tiền đã bồi thường cho các bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội Cố ý gây thương tích. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy thanh gỗ và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo gây thương thích cho anh Lê Hữu V tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09% và anh V có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại nên Tòa án vẫn xét xử bị cáo theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức L tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/7/2024, sau khi uống bia và hát karaoke xong, Nguyễn Đức L cùng với Lê Hữu T1 và Lê Hữu V rủ nhau cùng đi ăn cháo tại quán T5 ở thôn D, thị trấn H. Trong lúc ăn cháo chỉ vì hỏi anh T1 có tiền không nhưng anh T1 nói không có, Nguyễn Đức L bực tức không kìm chế được bản thân, dùng thanh gỗ đánh nhiều cái vào đầu mặt anh T1 gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 44% và khi anh V vào can ngăn thì bị cáo dùng thanh gỗ đánh trúng vào mặt anh V gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%.
[4] Xét về hành vi khách quan tuy bị cáo dùng thanh gỗ đánh vào vùng đầu mặt bị hại nhưng về ý thức chủ quan bị cáo không cố ý tước đoạt tính mạng hoặc bỏ mặc cho hậu quả chết người xẩy ra, cũng như xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, mối quan hệ giữa bị cáo với bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi trên của bị cáo cấu thành tội cố ý gây thương tích.
[5] Bị cáo là đối tượng mới ra tù, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt vô cớ mà thể hiện thái độ coi thường pháp luật, sức khỏe của người khác, dùng thanh gỗ cứng (kích thước khoảng 40x3,5x2cm) đánh gây thương tích là phạm tội thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; đồng thời, gây hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể cho người khác 53% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố bị cáo Nguyễn Đức L theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn, do đó cần phải xét xử nghiêm mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[7] Bị cáo đã nhiều lần bị kết án (tái phạm, tái phạm nguy hiểm), chưa được xóa án tích, nay thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong thời gian bị tạm giam bị cáo đã tích cực tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong thiệt hại cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã nhận thức rõ sai phạm nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo tự nguyện về đầu thú; bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập cộng đồng xã hội.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng, mức hình phạt, biện pháp xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong phần dân sự nay bị hại không còn yêu cầu bồi thường; chị Nguyễn Thị V1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi hoàn tiền đã bồi thường cho bị hại, do đó hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh gỗ kích thước 20x3,5x2cm là vật chứng trong vụ án không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2025.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 thanh gỗ kích thước 20x3,5x2cm (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Đức L phạm tội Cố ý gây thương tích
