|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 18-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Hồng Điệp;
- Ông Trương Thành Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đối với bị cáo:
Họ tên: Trần Thanh L, sinh năm: 1994; Nơi đăng ký thường trú: Số nhà A, đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh B, sinh năm: 1976 và bà Lê Thị Kiều L1, sinh năm: 1977; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 20/6/2023, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng 16 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được trả tự do ngay tại phiên tòa theo Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2023/HS-ST, ngày 20/6/2023.
Nhân thân:
- Ngày 30/10/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2018/HS-ST, ngày 30/10/2018, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/3/2019, đã xóa án tích.
- Ngày 24/6/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, đã chấp hành xong.
- Ngày 29/9/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HS-ST.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam P2, tỉnh Tiền Giang.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Phan Thị C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 15/5/2024, Trần Thanh L đang ở nhà trọ của bạn tên B1 (không rõ lý lịch) tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì có bạn tên T1 (không rõ địa chỉ, lý lịch) quen biết qua mạng xã hội, gọi điện thoại rũ L đi tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài nên L đồng ý và hẹn gặp nhau tại vòng xoay A thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. L điều khiển xe môtô biển số 54V8-2768 đến điểm hẹn gặp T1, sau khi gặp nhau, T1 điều khiển xe môtô của L chở L đi tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, T1 chở L đến địa phận ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An thì phát hiện 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 84B1-991.92 của bà Phan Thị C dựng trong hàng rào trước sân quán C1, không người trông giữ. Lúc này, T1 dừng xe trước quán cà phê M, L đứng ngoài cảnh giới. T1 lấy kìm bằng kim loại đã chuẩn bị từ trước cắt dây khóa rào rồi đi vào bên trong sân, lén lút lấy xe môtô hiệu Yamaha Sirius, biển số 84B1-991.92 rồi dẫn ra ngoài Quốc lộ E. Sau đó, L điều khiển xe môtô biển số 54V8-2768 của L chạy đến, dùng chân đẩy phía sau xe môtô biển số 84B1-991.92 do T1 điều khiển về hướng khu dân cư T, cách quán C1 khoảng 100m. Tại đây, T1 lấy một cây đoản tự chế bằng kim loại dùng để bẻ mở khóa xe trộm rồi khởi động máy điều khiển xe chạy về quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi lên đến quận B, T1 giao xe cho em gái của T1 chạy đi rồi T1 rủ L tiếp tục đi trộm nhưng L không đồng ý. Sau đó, T1 kêu L đưa xe môtô biển số 54V8-2768 cho T1 mượn thì L đồng ý giao xe cho T1 rồi L đi xe ôm về nhà trọ của B1 để ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 16/5/2024, T1 gọi điện thoại cho L hẹn qua đường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy xe môtô biển số 54V8-2768. L đi xe ôm đến nơi hẹn gặp T1 thì T1 trả xe môtô biển số 54V8-2768 lại cho L, rồi đưa cho L số tiền 3.200.000đ, T1 nói là tiền bán xe môtô biển số 84B1-991.92 được 8.000.000đ, trừ phí sửa ổ khóa nên chia cho L 3.200.000đ. Sau đó, L điều khiển xe biển số 54V8-2768 về nhà bạn tên Hoàng Vĩ P (tên gọi khác là B2) ở ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang chơi và dùng Facebook tên Thanh H chụp hình xe môtô biển số 54V8-2768 đăng bán trên trang Chợ Tốt với giá 5.500.000đ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, L nhờ P chạy theo L đến Quốc lộ F thuộc địa phận tỉnh Long An, L bán xe biển số 54V8-2768 cho một thanh niên (không rõ tên, lý lịch) được số tiền 4.800.000đ rồi nhờ P chở L về lại nhà của P chơi và cho P 100.000đ tiền xăng. Đến ngày 27/5/2024, L cùng đồng phạm tiếp tục trộm cắp tài sản tại Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M khởi tố bắt tạm giam. Riêng số tiền 3.200.000₫ L đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTX ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius FI, màu xanh, biển số 84B1-991.92 có giá trị là 17.003.000₫.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ: 01 xe môtô hiệu Honda Future biển số 54V8-2768 do Triệu Thanh P1 giao nộp, xe môtô này là vật chứng của vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra vào tháng 05 năm 2024 tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Thị C yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại giá trị xe là 20.000.000đ và không yêu cầu gì thêm, bị cáo đã tác động nhờ cô ruột là bà Trần Thị Thanh T bồi thường xong cho bị hại.
Cáo trạng số 02/CT-VKSCĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố bị cáo Trần Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh L từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Áp dụng Điều 56 tổng hợp hình phạt 02 năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 149/HSST, ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại giá trị tài sản, không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh L khai nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản, bản ảnh xác định địa điểm, phù hợp với các hình ảnh trích xuất Camera ngày 16/5/2024 tại khu vực xảy ra vụ việc. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, bị cáo Trần Thanh L đi cùng với người bạn tên T1 (không rõ lý lịch) đã lén lút chiếm đoạt xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius FI, màu xanh, biểm kiểm soát 84B1-991.92 có giá trị là 17.003.000đ của bà Phan Thị C đang dựng trước sân quán C1 ở ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Sau đó, T1 đem xe môtô trên bán được số tiền 8.000.000đ, chia cho L 3.200.000đ.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, ai xâm phạm đến sẽ bị pháp luật xử lý. Tuy nhiên do bị cáo tham lam, lười lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, có 01 tiền án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhân thân nhiều lần bị phạt tù về tội trộm cắp tài sản. Vì vậy bị cáo phải biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
[4] Ngày 20/6/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 10 tháng 16 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được trả tự do ngay tại phiên tòa. Như vậy tính đến ngày 15/5/2024 bị cáo chưa được xóa án tích thì lại thực hiện hành vi phạm tội khác. Do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường cho bị hại 20.000.000đ, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, bị cáo có nhân thân xấu, đã đã bị xử phạt tù, bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 16/5/2024 thì đến ngày 26/5/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội cố ý là tội trộm cắp tài sản và đã bị xét xử, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục bị cáo, đề cao tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.
[6] Hiện bị cáo đang phải chấp hành hình phạt 02 năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 149/HSST, ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.
[7] Đối với người thanh niên tên T1 là người mà bị cáo L khai đã liên lạc và cùng với L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại quán C1, qua điều tra chưa xác minh được lý lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tách vụ án tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại giá trị tài sản, không yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thanh T cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 20.000.000₫ mà bà T đã bồi thường cho bị hại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh L 02 (Hai) năm tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2024/HSST, ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Buộc bị cáo Trần Thanh L chấp hành hình phạt chung là 04 (B3) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2024 (Theo thời gian tại Quyết định thi hành án phạt tù số 277/2024/QĐ-CA, ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).
Tiếp tục giam bị cáo Trần Thanh L theo Quyết định thi hành án phạt tù số 277/2024/QĐ-CA, ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để đảm bảo cho việc thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Thanh L chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Quốc Dũng |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp xe môtô
