|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 10-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Chu Đàm Nguyên
- Bà Nguyễn Thị Vịnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/HSST ngày 25/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Văn C; Sinh ngày 15/12/1997 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn H và bà: Lê Thị L. Có vợ là Nguyễn Thị Lan A và 02 (Hai) con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị bắt khẩn cấp ngày 31/12/2024; đang thực hiện Lệnh tạm giam 111 ngày, kể từ ngày 09/01/2025 đến ngày 29/4/2025 của Công an thị xã Q. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt;
- Họ và tên: Nguyễn Thị Lan A; Sinh ngày 30/01/2002 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu F, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn R và bà: Vũ Thị N. Có chồng là Vũ Văn C và 02 (Hai) con (Vũ Anh Q, sinh ngày 03/5/2022 và Vũ Anh T1, sinh ngày 28/9/2023); Tiền án, Tiền sự: Không. Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến ngày 04/3/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” bằng biện pháp “Bảo lĩnh” kể từ ngày 04/3/2025 đến ngày 10/5/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt;
* Người làm chứng:
- - Dương Trọng T2, sinh năm 2003. Nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;
* Người chứng kiến:
- - Ngô Văn B, sinh năm 1972. Nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2024, Vũ Văn C nảy sinh ý định mua ma túy về chia nhỏ bán kiếm lời. Do công việc nên C thường xuyên vắng nhà, chỉ có vợ C (là Nguyễn Thị Lan A) ở nhà và biết chỗ C cất giấu ma túy. Nếu C ở nhà thì sẽ trực tiếp giao dịch mua bán ma túy, C vắng nhà thì chỉ đạo Lan A giao ma túy hộ, người mua ma túy sẽ chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của C và Lan A. Khoảng đầu tháng 11/2024, Dương Trọng T2 dùng tài khoản M “T” liên lạc với C qua tài khoản Messenger “Cương HaHa” để giao dịch mua bán cần sa. Mỗi lần mua thì T2 đều nhắn tin trước cho C, khi C đồng ý bán thì T2 chuyển khoản tiền mua ma túy từ tài khoản Ngân hàng của T2 đến tài khoản Ngân hàng của C và Lan A. Cương, Lan A đã nhiều lần bán ma túy cho T2 tại nhà ở khu F, phường P, thị xã Q, cụ thể: Ngày 05/11/2024, C bán cho T2 01 túi cần sa giá 2.000.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A; Ngày 08/11/2024, C bán cho T2 01 túi ma túy cần sa giá 800.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của C; Ngày 01/12/2024, C và Lan A bán cho T2 01 túi ma túy cần sa giá 300.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A; Ngày 02/12/2024, C và Lan A bán cho T2 01 túi cần sa giá 500.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A; Ngày 04/12/2024, C và Lan A bán cho T2 01 túi cần sa giá 300.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A.
Ngày 31/12/2024, Công an thị xã Q triệu tập Dương Trọng T2 để xét nghiệm nước tiểu; kết quả xét nghiệm: xác định T2 dương tính với chất ma túy. Đấu tranh làm rõ, T2 khai nhận đã mua ma túy của C và Lan A như nội dung nêu trên. Cùng ngày, Cơ quan điều tra bắt khẩn cấp Vũ Văn C, Nguyễn Thị Lan A.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Lan A: Thu giữ tại ngăn kéo bàn trang điểm 01 hộp nhựa hình trụ tròn dán nhãn màu đỏ, nắp màu đen bên trong chứa thực vật khô.
Kết luận giám định 41/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q: Thực vật khô - vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Lan A là ma tuý; Loại: Cần sa; Khối lượng: 0,427 gam. H1 lại 0,36 gam mẫu vật sau giám định.
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Dương Trọng T2: Dương tính với chất ma tuý (loại cần sa) trong cơ thể.
Biên bản kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ, đã qua sử dụng của Dương Trọng T2 thể hiện các giao dịch chuyển khoản từ số tài khoản 109628050320 chủ tài khoản DUONG TRONG TU: Ngày 05/11/2024, chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản của N1; Ngày 08/11/2024, chuyển 500.000 đồng đến tài khoản của V; Ngày 01/12/2024, chuyển 02 lần (190.000 đồng và 300.000 đồng) vào tài khoản của N1; Ngày 02/12/2024, chuyển 500.000 đồng vào tài khoản của N1; Ngày 04/12/2024, chuyển 300.000 đồng vào tài khoản của N1.
Biên bản kiểm tra, trích xuất dữ liệu điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Lan A: Không phát hiện nội dung liên quan vụ án.
Cáo trạng số 1496/CT-VKSQY ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố các bị cáo: Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 đối với bị cáo Nguyễn Thị Lan A).
Xử phạt: Vũ Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Thị Lan A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong mẫu vật số 41/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q và 01 sim điện thoại của Nguyễn Thị Lan A; Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị Lan A; Trả lại Dương Trọng T2 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng kèm 01 sim. Tịch thu của bị cáo Vũ Văn C 3.900.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Cả 2 bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật; việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; được giải thích về việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử và xin được hưởng khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Vũ Văn C khai: Bị cáo và T2 là người quen, đều sử dụng cần sa. T2 biết bị cáo có bán cần sa nên khi có nhu cầu sử dụng thì T2 liên lạc với bị cáo qua ứng dụng Messenger để hỏi mua. Bị cáo đồng ý và nhắn T2 chuyển tiền vào tài khoản và đến nhà bị cáo để nhận ma tuý. Các lần bán ma tuý và giá tiền như nội dung Cáo trạng và lời khai của T2 là đúng. Nguồn gốc số ma tuý bán cho T2 ngày 05/11/2024: là do bị cáo mua được từ một người lạ tên “Cùn - H” trên ứng dụng Telegram với giá 2.000.000 đồng (tiền mua cần sa, bị cáo nhận từ T2 rồi chuyển vào tài khoản VU HUY HOANG tại Ngân hàng B1). Nguồn gốc số ma tuý bán cho T2 các ngày 08/11/2024; ngày 01, 02 và 04/12/2024: trước đó, ngày 01/12/2024, bị cáo mua được ma tuý của người lạ trên ứng dụng Telegram mang tên “Cùn - H” với giá 1.500.000 đồng, Lan A nhận hộ. Bị cáo đi làm về chia túi cần sa thành 04 gói nhỏ để trong lọ nhựa màu trắng, dán nhãn màu đỏ, nắp đen rồi cất giấu trong ngăn kéo bàn trang điểm của Lan A mục đích để bán. Bị cáo không bàn bạc với Lan A về việc mua, bán ma tuý; bị cáo mua ma tuý về sử dụng cho bản thân và bán khi có người hỏi mua. Do công việc hay vắng nhà nên khi T2 hỏi mua thì bị cáo nhờ Lan A cầm ma tuý bán theo chỉ đạo của bị cáo. Chiếc điện thoại bị cáo liên hệ với T2 để bán ma tuý đã bị rơi xuống biển trong quá trình bị cáo đi làm.
Bị cáo Nguyễn Thị Lan A xác nhận nội dung vụ án như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo chỉ bán ma tuý cho T2 vào các ngày 01, 02 và 04/12/2024, ngoài ra không bán cho ai khác. Tất cả những lần T2 mua ma tuý đều đến nhà vợ chồng Lan A để trực tiếp giao nhận ma tuý. Nguồn gốc số ma tuý bán cho T2 do một mình bị cáo C mua trên ứng dụng Telegram. Ngày 05 và 08/11/2024, bị cáo C bán ma tuý cho T2 thế nào Lan A không biết. Đến ngày 01/12/2024, bị cáo Lan A biết là C bán ma tuý nên đã khuyên ngăn C không bán ma tuý nhưng C nói là giao hộ cho C. Ngày 02 và 04/12/2024, Lan A đều khuyên C không bán ma tuý nhưng C nói đây là lần bán cuối cùng nên Lan A đã tin tưởng để bán ma tuý cho chồng; C gọi cho Lan A bán ma tuý thông qua điện thoại của C và Lan A (Iphone 14 gắn sim 0346.260.638), tất cả cuộc gọi bị cáo đã xoá lịch sử cuộc gọi tránh bị phát hiện.
Người làm chứng Dương Trọng T2 có lời khai thể hiện: khoảng đầu tháng 11/2024 T2 sử dụng tài khoản “T” liên lạc với C qua tài khoản “Cương HaHa” bằng ứng dụng Messenger để hỏi mua ma túy (cần sa), C đồng ý và hẹn T2 đến nhà C để trực tiếp mua bán ma túy. Cương ở nhà thì trực tiếp đưa ma túy (cần sa) cho T2, nếu C vắng nhà thì sẽ gọi cho Lan A để đưa ma túy cho T2. Mỗi lần mua được ma túy, T2 đều mang về nhà cất giấu, vài ngày T2 sử dụng ma túy một lần cho đến khi hết ma túy thì T2 lại nhắn tin cho C để tiếp tục hỏi mua. T2 đã nhiều lần mua ma túy của C và Lan A nhưng chỉ nhớ được vài lần gần nhất, cụ thể:
- Ngày 05/11/2024, C bán cho T2 01 túi cần sa giá 2.000.000 đồng, T2 đã chuyển tiền vào tài khoản của Lan A;
- Ngày 08/11/2024, C bán cho T2 01 túi ma túy cần sa giá 800.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của C;
- Ngày 01/12/2024, C và Lan A bán cho T2 01 túi ma túy cần sa giá 300.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A;
- Ngày 02/12/2024, C và Lan A bán cho T2 01 túi cần sa giá 500.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A;
- Ngày 04/12/2024, C và Lan A bán cho T2 01 túi cần sa giá 300.000 đồng, T2 chuyển tiền vào tài khoản của Lan A.
Người chứng kiến Ngô Văn B khai: Hồi 07 giờ 50 phút ngày 31/12/2024, khi ông B đang ở nhà riêng thì Cơ quan Công an mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính nhà Dương Trọng T2, quá trình kiểm tra T2 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Công an tiến hành Test nhanh nước tiểu của T2. Kết quả: dương tính với ma túy. Dương Trọng T2 khai nhận khoảng 19 giờ ngày 29/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T2 lấy ma túy (cần sa) để sử dụng, sau khi sử dụng hết cần sa thì T2 nằm ngủ. Nguồn gốc số ma túy T2 sử dụng là do T2 mua qua tài khoản Facebook “Cương HaHa” giá 300.000 đồng, T2 đã chuyển tiền trả vào ngày 04/12/2024.
Dương Trọng T2 qua xét nghiệm cho kết quả dương tính với ma tuý, đã được cai nghiện tập trung tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Quảng Ninh. Không xác minh được thông tin cụ thể người bán ma túy cho cho Vũ Văn C, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định có tội:
- - Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn C về việc bán trái phép chất ma tuý phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Lan A; phù hợp với lời khai của người làm chứng Dương Trọng T2; phù hợp với Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lập hồi 19 giờ 40 phút ngày 31/12/2024; Biên bản kiểm tra điện thoại; Kết luận giám định; Biên bản thu thập dữ liệu điện tử và niêm phong điện thoại; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh vật chứng; Quyết định trưng cầu giám định và Kết luận giám định.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 05 và 08/11/2024 Vũ Văn C có hành vi bán trái phép ma tuý cho Dương Trọng T2 02 lần (mỗi lần 01 túi - loại cần sa) với tổng số tiền 2.800.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản của Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A. Trong các ngày 01, 02 và 04/12/2024, Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A có hành vi bán trái phép ma tuý cho T2 03 lần (mỗi lần 01 túi cần sa) với tổng số tiền giá 1.100.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thị Lan A thì bị phát hiện. Ngoài ra, Vũ Văn C còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,427 gam ma tuý (loại cần sa) mục đích để bán thì bị phát hiện, thu giữ.
Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;"
- Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước; ma túy là chất bị Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội; hành vi mua bán trái phép chất ma túy gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều nhận thức được tác hại của ma túy; nhận thức được mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn mua bán nhằm kiếm lời thể hiện sự coi thường pháp luật, cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A là đồng phạm, cùng cố ý thực hiện một hành vi phạm tội. Xét vai trò từng bị cáo thấy: bị cáo C giữ vai trò chính, chủ động mua ma túy về chia nhỏ, chủ động liên lạc, báo giá, bán trực tiếp ma tuý 05 lần cho T2 kiếm lời và sử dụng toàn bộ số tiền bán ma tuý; đồng thời bị cáo C còn tàng trữ 0,427gam ma tuý (loại cần sa) mục đích để bán kiếm lời nên phải chịu trách nhiệm cao hơn. Nguyễn Thị Lan L1 (là vợ bị cáo C) phạm tội với vai trò giúp sức, bán ma tuý cho T2 03 lần theo sự chỉ đạo của bị cáo C nên chịu trách nhiệm sau C.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ. Xét vai trò của bị cáo Nguyễn Thị Lan A là đồng phạm giúp sức giản đơn, vai trò không đáng kể, không bàn bạc thống nhất việc mua bán mà chỉ có hành vi giao ma tuý khi C gọi điện thoại nhờ lúc C vắng nhà và không được hưởng lợi từ việc bán ma tuý; đồng thời đang nuôi 02 con nhỏ đều dưới 36 tháng tuổi. Do đó, HĐXX xem xét cho bị cáo Nguyễn Thị Lan A dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật làm động lực phấn đấu cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình để chăm sóc các con nhỏ.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Dương Trọng T2 đã được cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Quảng Ninh, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Vật chứng: mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong mẫu vật số 41/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q và 01 sim điện thoại của Nguyễn Thị Lan A là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị Lan A là công cụ phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước. Điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng kèm 01 sim của Dương Trọng T2 không phải là vật chứng vụ án nên trả lại cho T2 theo quy định pháp luật.
Số tiền 3.900.000₫ Vũ Văn C bán ma túy cho Dương Trọng T2 là tiền do phạm tội mà có, đồng thời bị cáo Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A đều xác nhận mặc dù tiền bán ma tuý được chuyển vào tài khoản của Lan A nhưng C sử dụng số tiền này chi tiêu cá nhân nên cần tịch thu của C để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự các bị cáo có thể bị phạt bổ sung. Nhưng xét các bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản khác nên không áp dụng.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Lan A).
Tuyên bố: Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Vũ Văn C 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.
Xử phạt Nguyễn Thị Lan A 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam từ 31/12/2024 đến ngày 04/3/2025.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong mẫu vật số 41/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q và 01 sim điện thoại của Nguyễn Thị Lan A;
- - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị Lan A;
- - Trả lại Dương Trọng T2 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng kèm 01 sim.
- (Vật chứng, tài sản theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).
- - Tịch thu của bị cáo Vũ Văn C 3.900.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Về án phí và kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vũ Văn C và Nguyễn Thị Lan A mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, đóng dấu) |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn C (cđp) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
