Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Lô;
  2. Bà Huỳnh Thị Ngọc Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thuận Hải- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Thông báo về việc xét xử bổ sung số: 14/TB-HS, ngày 16 tháng 01 năm 2024; đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Tấn Đ; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 01/01/1971, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số A, đường C, Khu phố C, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Công chức thuế; trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Con ông Bùi Văn Đ1, sinh năm 1939 (Đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1940; bị cáo có vợ tên Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1970 và có 01 người con, sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
  2. Họ và tên: Trần Quốc S; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 22/10/1966, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Nhân viên hợp đồng của Bưu điện thành phố T. Trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Con ông Trần Tấn P, sinh năm 1930 (Đã chết) và bà Quách Kim H, sinh năm 1937 (Đã chết). Bị cáo có vợ tên Võ Thị Kim N1, sinh năm 1968 và có 02 người con, người lớn sinh năm 1994, người nhỏ sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/7/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
  3. Họ và tên: Trần Thanh T1; giới tính: Nữ; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 08/10/1991, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và Nơi cư trú hiện nay: Số F, đường Y, Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Nhân viên Bưu điện; trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài. Con ông Trần Hoàng C, sinh năm 1960 và bà Lê Thị L, sinh năm 1966. Chồng, con: Không có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 cho đến nay.
  4. Họ và tên: Tống Thị Lan Đ2; giới tính: Nữ; tên gọi khác: không có; sinh ngày 05/8/1992, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: số B, hẻm H, đường T, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài. Con ông Tống Minh Đ3, sinh năm 1971 và bà Võ Thị T2, sinh năm 1970. Bị cáo có chồng tên Nguyễn Anh K, sinh năm: 1989; và có 01 người con, sinh năm 2024 Tiền án: tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Tháng 9/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm cải tạo không giam giữ về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 cho đến nay.

  5. Họ và tên: Dương Bảo T3; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 25/5/1990, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Giám đốc Bưu điện thành phố T. Đảng viên Đ5. Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Con ông Dương Đình T4, sinh năm 1966 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1969; vợ, con: Không có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 cho đến nay.
  6. Họ và tên: Nguyễn Hiếu N2; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 22/3/1965, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số G, đường T, khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Công chức thuế, Chi cục thuế khu vực thành phố T - C thuộc Cục thuế tỉnh T. Đảng viên Đ5. Trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1940, đã chết và bà Trần Ngọc H2, sinh năm 1941; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng H3, sinh năm 1966 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 cho đến nay.
  7. Họ và tên: Nguyễn Thị X; giới tính: Nữ; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 20/8/1964, tại tỉnh Nam Định. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số C, đường L, Khu phố A, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Nhân viên Bưu điện. Đảng viên Đ5, bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 10-12-2024 (theo Quyết định số 242-QĐ/UBKTTU của Ủy ban kiểm tra thành ủy T13). Trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1930 (Đã chết) và bà Lê Thị N3, sinh năm 1935 (Đã chết); bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn T6, sinh năm 1962 và có 02 người con, người lớn sinh năm 1994, người nhỏ sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 cho đến nay.

Tất cả các bị cáo có mặt tại phiên toà.

  • Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tấn Đ: Luật sư Nguyễn Duy H4 thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Duy H4- Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.
  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hiếu N2: Luật sư Nguyễn Văn T7 thuộc Văn phòng L4- Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.
  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị X: Luật sư Nguyễn Thị L1 thuộc Công ty L5- Chi nhánh T14; có mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Trần Hương Dạ Phương V, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Khu phố B, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.
    • Bà Nguyễn Thị Á C1, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: số G, tổ A, ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bưu điện thành phố T do Tổng Công ty B1 thành lập theo Quyết định số 1814/QĐ-BĐVN ngày 19/12/2016, là đơn vị trực thuộc Bưu điện tỉnh T, có con dấu riêng, được đăng ký hoạt động, mở tài khoản tại ngân hàng. Chi cục thuế khu vực thành phố T - C là cơ quan trực thuộc Cục thuế tỉnh T, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước. Ngày 16/6/2020, Chi cục thuế khu vực thành phố T - C (C2) ký hợp đồng ủy nhiệm thu thuế với Bưu điện thành phố T (Bưu điện thành phố) về việc ủy nhiệm thu thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn thành phố T.

Việc thực hiện ủy nhiệm thu thuế được thực hiện theo Quy trình được ban hành kèm theo Quyết định số 1939/QĐ-TCT ngày 06/11/2017 của T15; Công văn số 946/BĐTN-KTTKTC ngày 14/10/2016 của Bưu điện tỉnh T. Theo đó, Bưu điện T có trách nhiệm bố trí nhân viên ủy nhiệm thu; tổ chức thu thuế và nộp đầy đủ số tiền thuế đã thu trong ngày vào Kho bạc Nhà nước chậm nhất 12 giờ ngày làm việc kế tiếp. Chi cục thuế khu vực có trách nhiệm: phát hành thông báo nộp thuế, sổ bộ T16 đã duyệt cho Bưu điện thành phố làm căn cứ thu thuế; phối hợp Bưu điện thành phố đối chiếu việc thu, nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước; cán bộ, công chức thuế không được trực tiếp thu thuế, giữ tiền thuế mà chỉ thực hiện chức năng quản lý, giám sát, kiểm tra, nhắc nhở nhân viên ủy nhiệm thu thực hiện nhiệm vụ.

Chứng từ sử dụng để thu thuế là “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” do Bưu điện T phát hành, được cấp phát, quản lý, sử dụng theo Quy định tại Công văn số 1096/BĐTN-KTTKTC ngày 14/10/2019 của Bưu điện T. Kế toán Bưu điện T là người chịu trách nhiệm về cấp, phát “Giấy xác nhận nộp tiền thuế”, mở sổ theo dõi việc cấp, phát; chịu trách nhiệm báo cáo việc sử dụng, thu hồi “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” đã sử dụng lưu tại kho đơn vị. Việc cấp phát “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” phải đảm bảo nguyên tắc thu hồi chứng từ cũ rồi mới được cấp chứng từ mới.

Dương Bảo T3- Giám đốc và Tống Thị Lan Đ2- Phụ trách bộ phận Kế toán Bưu điện thành phố là những người trực tiếp phân công nhiệm vụ cho các nhân viên Bưu điện thực hiện thu thuế theo hợp đồng. Trong đó, Tống Thị Lan Đ2 phụ trách chung; Lê Thị Thanh T8 là thủ quỹ và 02 nhân viên quản lý thuế là Võ Thị Ngọc T9 (thực hiện từ tháng 11/2020 đến tháng 4/2021) và Trần Thanh T1 (thực hiện từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2023); Trần Quốc S thực hiện ủy nhiệm thu thuế trên địa bàn Phường C, thành phố T và Nguyễn Thị X thực hiện ủy nhiệm thu thuế trên địa bàn Phường I, thành phố T.

Quá trình thực hiện thu thuế, Trần Quốc S, Nguyễn Thị X nhận chứng từ thu “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” từ Võ Thị Ngọc T9 và Trần Thanh T1 để thu tiền thuế các hộ kinh doanh nộp thuế khoán theo địa bàn được phân công. Sau khi thu tiền thuế, S, X giao nộp tiền cho Lê Thị Thanh T8, còn chứng từ thu thì giao cho Trần Thanh T1 để Trần Thanh T1 lập danh sách người nộp thuế giao cho Tống Thị Lan Đ2 kiểm tra, lập phiếu thu rồi giao cho Lê Thị Thanh T8 đối chiếu và đem tiền thu được đi nộp vào tài khoản của Bưu điện thành phố T tại Ngân hàng Đ6 Chi nhánh T14 (B2) để nộp vào ngân sách Nhà nước. Liên 1 lưu tại quyển được S, X đem về nộp lại cho Trần Thanh T1 lưu trữ để nhận quyển mới nhưng X và S thực hiện không đúng quy định, cụ thể như sau:

Ngày 31/10/2022, bà Nguyễn Thị Á C1 là chủ hộ kinh doanh Nguyễn C1 tại số B, đường H, khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nộp tiền thuế cho Trần Quốc S bằng hình thức sử dụng tài khoản số [...] chuyển vào tài khoản số [...] của S số tiền 7.000.000 đồng và nộp tiền mặt 7.000.000 đồng cho S. Sau khi nhận tiền từ bà C1, S tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 13/12/2022, bà Trần Lê Thúy H5 đến Đội thuế Phường C, thành phố T nộp tiền thuế thay cho con ruột là chị Phan Trần Trúc M – Kinh doanh thuốc tây (Nhà T), địa chỉ khu phố B, Phường C, thành phố T để làm hồ sơ chuyển địa điểm kinh doanh về phường N, thành phố T cho chị M. Sau khi ông Nguyễn Thanh H6- công chức thuế tính tiền thuế xong, xác định số tiền thuế bà H5 phải nộp là 13.500.000 đồng, do không đem theo tiền mặt nên bà H5 sử dụng tài khoản số 0701003816735 mở tại Ngân hàng V1 Chi nhánh T14 chuyển 13.500.000 đồng vào tài khoản số [...] Ngân hàng Á (A) của S. Sau khi nhận được tiền, S sử dụng quyển Giấy xác nhận nộp tiền thuế ra ghi số tiền bà H5 chuyển nộp thuế vào liên số 0035887 do bà Nguyễn Thị X ký tên sẵn phần người thu, nhưng S không giao chứng từ thu cho bà H5. Sau đó, S tự ý hủy liên thu số 0035887, không nộp số tiền 13.500.000 đồng vào ngân sách mà sử dụng tiêu xài cá nhân.

Như vậy, tổng số tiền Trần Quốc S chiếm đoạt là 27.500.000 đồng. Sự đã nộp khắc phục toàn bộ số tiền trên.

Đối với Bùi Tấn Đ: Từ năm 2020 đến tháng 8/2023, Đ là Đội trưởng Đội quản lý thuế liên phường C – phường IV thuộc Chi cục C2 khu vực. Theo Quyết định số 1939/QĐ-TCT ngày 06/11/2017 của Tổng cục T15 về việc ban hành quy trình quản lý thu thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thông qua tổ

chức được ủy nhiệm thu thuế và Quyết định số 245/QĐ-TCT ngày 25/3/2019 của Tổng cục T15 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuộc Chi cục C2 thì cán bộ Công chức thuế không được trực tiếp thu thuế, giữ tiền thuế đối với các khoản đã uỷ nhiệm thu mà chỉ thực hiện chức năng quản lý, giám sát, kiểm tra nhắc nhở đối với nhân viên ủy nhiệm thu. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2020 – 2023, Đ đã thực hiện không đúng quy định nêu trên, cụ thể Đ đã nhận chứng từ thu “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” từ Nguyễn Thị X và Võ Thị Ngọc T9, Trần Thanh T1 để trực tiếp thu tiền thuế nhiều hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I, thành phố T. Năm 2021, Đ nhận 08 quyển “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” (trong đó, nhận từ X 05 quyển số: 8324, 8325, 7287, 6824, 8285, Trâm 02 quyển số: 7325, 7326, T1 01 quyển số 7807) để thực hiện thu thuế các hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I, thành phố T, khi thu xong Đ không giao chứng từ thu và tiền thu được cho X để nộp vào ngân sách Nhà nước, Đ đã cất giữ 08 quyển “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” và chiếm đoạt số tiền là 729.668.600 đồng sử dụng mục đích cá nhân.

Ngoài ra, Bùi Tấn Đ còn thu tiền thuế của 08 hộ kinh doanh (gồm: Phạm Hồng T10, Huỳnh Thị Mỹ L2, Trần Văn Đ4, Bùi Văn T11, Trần Quốc H7, Lưu Thị Kim H8, Dương Văn Ú, Trương Nguyễn Diễm P1) bằng tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của mình, không giao chứng từ thu cho người nộp thuế để chiếm đoạt số tiền 222.605.400 đồng. Ngoài ra, Đ không đưa vào bộ thuế để quản lý 01 hộ kinh doanh (Trần Hương Dạ Phương V) nhưng vẫn thực hiện thu tiền thuế hàng tháng để chiếm đoạt số tiền 21.250.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng số tiền Đ chiếm đoạt là 973.524.000 đồng. Hiện Đ đã tự nguyện khắc phục hậu quả số tiền trên.

Việc Bùi Tấn Đ cất giấu 08 quyển chứng từ thu để chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng trên trong thời gian dài không bị phát hiện là do lãnh đạo, nhân viên Bưu điện thành phố và lãnh đạo, cán bộ Chi cục C2 khu vực không thực hiện hết trách nhiệm được giao, cụ thể như sau:

Tại Chi cục Thuế khu vực: Nguyễn Hiếu N2 – Chi cục Phó được Ban lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách Đội quản lý thuế liên phường C-phường IV thuộc Chi cục C2 khu vực, thời gian từ năm 2020 đến tháng 7/2023, N2 không kiểm tra nên không phát hiện Đ nhận chứng từ thu “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” trái quy định từ X, T1 để thu và chiếm đoạt tiền của các hộ kinh doanh nộp thuế khoán trên địa bàn Phường I, thành phố T. Đến tháng 3/2023, N2 phát hiện Đ

thu, chiếm đoạt tiền thuế của nhiều hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I, thành phố T và đã yêu cầu Đ nộp khắc phục số tiền mà Đ chiếm đoạt trước đó, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ sai phạm của Đ đến Cục Thuế tỉnh T để xử lý. N2 đã thực hiện nhiệm vụ không đúng quy định tại Thông báo số 91/TB-CCTKV ngày 15/01/2021 và các Quyết định số 6841/QĐ-CCTKV ngày 01/10/2021, Quyết định số 58/QĐ-CCTKV ngày 05/01/2022 của Chi cục Trưởng Chi cục C2 khu vực thành phố T- C về việc phân công nhiệm vụ của lãnh đạo Chi cục C2 khu vực thành phố T - C để Đ thu và chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng tiền thuế của các hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I, thành phố T.

Tại Bưu điện thành phố T:

Nguyễn Thị X được lãnh đạo Bưu điện thành phố giao nhiệm vụ nhận, quản lý, sử dụng “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” để thực hiện thu thuế trên địa bàn Phường I, thành phố T. Năm 2021, X đã giao 05 quyển “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” cho Đ trái quy định để Đ thu thuế một số hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I. Sau khi giao chứng từ cho Đ, X không làm hết trách nhiệm được lãnh đạo Bưu điện giao trong hợp đồng thu, nộp tiền thuế khoán trên địa bàn Phường I, thành phố T, từ năm 2021 đến năm 2023, X không yêu cầu Đ giao lại tiền thuế thu được cùng 05 quyển chứng từ thu trước đó để nộp về Bưu điện thành phố, tạo điều kiện cho Đ chiếm đoạt số tiền 461.003.900 đồng tiền thuế, gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước.

Trần Thanh T1 được lãnh đạo Bưu điện thành phố giao nhiệm vụ cấp phát, quyết toán chứng từ thu cho nhân viên uỷ nhiệm thu nhưng T1 đã tự ý cấp cho Đ 01 quyển “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” và thực hiện cấp phát, quyết toán chứng từ thu “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” không đúng quy định, đây là nguyên nhân dẫn đến việc Đ cất giữ 08 quyển chứng từ thu, để chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng trong thời gian dài không bị phát hiện. Hành vi của T1 đã vi phạm khoản 2.2 Mục B của Công văn số 1096/BĐTN-KTTKTC ngày 14/10/2019 về việc quy định về quản lý và phạt trong việc sử dụng ấn chỉ, biên lai thu tiền, biên lai chi tiền tại điểm giao dịch, điểm bán hàng thuộc Bưu điện T.

Tống Thị Lan Đ2, trực tiếp quản lý nhân viên bộ phận kế toán của Bưu điện thành phố, trực tiếp quản lý công việc của nhân viên quản lý thuế và nhân viên thực hiện ủy nhiệm thu thuế, Đ2 đã không kiểm tra, giám sát công việc của nhân viên cấp dưới trong việc cấp phát, quyết toán chứng từ thu đối với Trần Thanh T1 nên dẫn đến việc cấp phát, quyết toán các quyển “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” không đúng quy

định, đây là nguyên nhân chính để Đ cất giữ 08 quyển chứng từ thu để chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng. Hành vi của Đ2 vi phạm các Điều 18, 19 của Quy định tổ chức và hoạt động của Bưu điện huyện/thành phố trực thuộc Bưu điện tỉnh T (kèm theo Quyết định số 1155/QĐ-BĐTN ngày 11/10/2018 của Bưu điện tỉnh T).

Đối với Dương Bảo T3 – Giám đốc Bưu điện T là người trực tiếp giao nhiệm vụ cho Tống Thị Lan Đ2, Trần Thanh T1 trong việc cấp phát, quyết toán chứng từ thu “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” và giao nhiệm vụ thu thuế theo hợp đồng ủy nhiệm thu giữa Bưu điện thành phố và Chi cục Thuế khu vực cho Nguyễn Thị X và Trần Quốc S. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, T3 không kiểm tra để Tống Thị Lan Đ2, Trần Thanh T1, Nguyễn Thị X thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao nên Đ chiếm đoạt 729.668.600 đồng tiền thuế trong thời gian dài không bị phát hiện. Hành vi của Dương Bảo T3 vi phạm các Điều 12, 13 của Quy định tổ chức và hoạt động của Bưu điện huyện/thành phố trực thuộc Bưu điện tỉnh T (kèm theo Quyết định số 1155/QĐ-BĐTN ngày 11/10/2018 của Bưu điện tỉnh T).

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

  • 08 (tám) quyển “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” số 8324, 8325, 7807, 7325, 7326, 6824, 8285 - kèm theo hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, số máy: MKTN2LL/A, số seri: C39QK6BAGRWL, kèm sim số 0826.334.567 (đã qua sử dụng).

* Về trách nhiệm dân sự: Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S đã nộp khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt.

* Về kê biên tài sản: Không có.

Tại Bản Cáo trạng số: 43/CT-VKS-P3 ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, truy tố các bị cáo: Bùi Tấn Đ về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 355 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Quốc S về tội “Tham ô tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị X về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X theo nội dung bản Cáo trạng.

Riêng đối với bị cáo Trần Quốc S thực hiện 02 lần hành vi chiếm đoạt số tiền 27.500.000 đồng. Bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo S theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự, với tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là không đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật”. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Quốc S theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

* Về trách nhiệm hình sự:

  • Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 355; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Tấn Đ từ 08 đến 10 năm tù, về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
  • Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41, khoản 5 Điều 355 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo Đ đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính trong thời hạn từ 02 đến 03 năm, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc S từ 02 đến 03 năm tù, về tội “Tham ô tài sản”.
  • Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41, khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo S đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính trong thời hạn từ 02 đến 03 năm, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T1 từ 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  • Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41, khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo T1 đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính trong thời hạn từ 02 đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tống Thị Lan Đ2 từ 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đ2.

  • Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41, khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo Đ2 đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính trong thời hạn từ 02 đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Bảo T3 từ 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  • Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41, khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo T3 đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính trong thời hạn từ 02 đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N2 từ 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  • Hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41, khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo N2 đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính trong thời hạn từ 02 đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 360; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus, không liên quan đến việc thực hiện tội phạm.
  • Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận các bị cáo Đ, bị cáo S đã nộp khắc phục tiền bồi thường xong.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tấn Đ là Luật sư Nguyễn Duy H4 trình bày luận cứ bào chữa:

Tại phiên toà, bị cáo Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 355 Bộ luật Hình sự là đúng, sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo từ 08-10 năm tù là quá nghiêm khắc. Tôi xin trình bày những quan điểm bào chữa cho bị cáo, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, như sau:

  • Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Đ đã luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo vô cùng hối hận nên đã cố gắng nộp toàn bộ số tiền chiếm đoạt để khắc phục hậu quả.
  • Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có thời gian dài làm việc, cống hiến cho Nhà nước, được tặng thưởng nhiều Bằng khen, giấy khen, Chiến sĩ thi đua cấp Cục và Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Tài chính.
  • Ngoài ra, tội cũng xin nêu một số nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Về nguyên nhân chủ quan: Bị cáo trình bày do lâm vào tình trạng khó khăn, con bị cáo bị bệnh nặng không có tiền điều trị (tuy nhiên nguyên nhân này không được xem xét). Về nguyên nhân khách quan: Hành vi của bị cáo kéo dài từ năm 2021 đến 2023 mới bị phát hiện; đây cũng có phần lỗi của Chi cục C2 khu vực và Bưu điện T đã thiếu kiểm tra, giám sát, buông lỏng quản lý, không đối chiếu, dẫn đến bị cáo phạm tội trong thời gian dài và số tiền chiếm đoạt lớn, không ngăn chặn

kịp thời. Đây là những nguyên nhân đáng tiếc để bị cáo Đ phạm tội còn kéo theo những bị cáo khác liên quan đến trách nhiệm.

Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo mức án thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị, xử phạt bị cáo từ 06- 07 năm tù, cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm và để bị cáo được sớm trở về, có cơ hội làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.

Bị cáo Bùi Tấn Đ thống nhất với luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Duy H4, không bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị X là Luật sư Nguyễn Thị L1 trình bày luận cứ bào chữa:

Tôi thống nhất với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát, truy tố bị cáo Nguyễn Thị X về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 của Bộ luật Hình sự.

Tôi xin trình bày thêm về những nguyên nhân xảy ra hành vi phạm tội của bị cáo; cụ thể: Bản thân bị cáo X sau khi đã nghỉ hưu, được bị cáo Đ bảo lãnh vào làm nhân viên hợp đồng thu thuế. Từ trước bị cáo Đ cũng có thu hộ tiền thuế và đều giao nộp tiền thuế và chứng từ đầy đủ. Do đó, tạo được lòng tin của bị cáo X và vì là người bảo lãnh nên bị cáo X cũng nể nang đối với bị cáo Đ. Tại thời điểm bị cáo X giao các quyển sổ “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” cho bị cáo Đ là thời điểm dịch bệnh Covid-19 bùng phát, bị giãn cách, đi lại khó khăn nên khi nghe bị cáo Đ chủ động nói đi thu hộ tiền thuế giúp, thì bị cáo X đã tin tưởng giao cho bị cáo Đ các chứng từ thu thuế. Bị cáo X hoàn toàn không biết Đ thu tiền mà không nộp cho Ngân sách nhà nước. Sau khi biết hành vi phạm tội của Đ, bị cáo X đã tích cực tác động để bị cáo Đ nộp toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, khắc phục hậu quả.

Bị cáo X đã thấy được hành vi sai phạm của bị cáo nên đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, khai báo toàn bộ sự việc với thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo X có quá trình công tác, phục vụ cho nhà nước rất dài; đạt nhiều thành tích xuất sắc, được tặng rất nhiều Bằng khen, Giấy K, danh hiệu Chiến sĩ thi đua trong công tác. Sau khi nghỉ hưu về địa phương, bị cáo tích cực trong công tác sinh hoạt đảng và được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Chi bộ khu phố. Ngoài ra, cha

mẹ ruột của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo tại điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

Bị cáo Nguyễn Thị X thống nhất với luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Thị L1, không bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hiếu Nghĩa L3 Luật sư Nguyễn Văn T7 trình bày luận cứ bào chữa:

Tôi không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, tôi chỉ trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo N2.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo Nguyễn Hiếu N2 có thiếu trách nhiệm trong việc Bùi Tấn Đ sai phạm hay không?

Một là, “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” do Bưu điện T17, cấp phát cho Bưu điện T để thực hiện uỷ nhiệm thu.

Bị cáo Đ tự ý nhận chứng từ thu thuế là “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” do cán bộ Bưu điện giao để đi thu thuế là vi phạm quy định tại Quyết định số 1939. Sau khi sử dụng “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” thu thuế xong thì Đ không nộp tiền thuế thu được vào Ngân sách nhà nước. Như vậy, việc làm này của Đ thuộc trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát của ai?

Trước hết, chứng từ thu thuế là “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” do Bưu điện quản lý, kiểm tra, quyết toán với Chi cục C2. Chi cục Thuế giao trách nhiệm này cho Đội kiểm tra thuế thực hiện.

Hai là, số tiền thuế do bị cáo Đ thu được mà không nộp vào NSNN thì xảy ra trường hợp nợ thuế, trách nhiệm kiểm tra, giám sát nợ thuế là Đội quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; thực tế tại Chi cục thuế là bộ phận quản lý nợ nằm trong Đội kiểm tra thuế số 1; bộ phận quản lý nợ này phải báo cáo lãnh đạo Chi cục C2 ban hành Thông báo nợ tiền thuế, cưỡng chế thu hồi nợ thuế; nếu làm tốt nhiệm vụ này thì Đ có chiếm đoạt tiền thu thuế được không?

Bộ phận quản lý nợ của Chi cục thuế có tham mưu cho Ban lãnh đạo Chi cục C2 ban hành Thông báo nợ tiền thuế của các hộ kinh doanh do bị cáo Đ thu chưa? Có tiến hành cưỡng chế thu nợ thuế trường hợp nào chưa?

Ngoài bộ phận quản lý nợ, thì Đội Kê khai – Kế toán thuế; Đội kiểm tra thuế có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thu thuế trên địa bàn thành phố.

Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng:

Đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, người phạm tội chỉ có hành vi khách quan duy nhất là thiếu trách nhiệm. Theo đó tùy thuộc vào công việc, nhiệm vụ được giao, hoàn cảnh cụ thể mà hành vi thiếu trách nhiệm sẽ có những biểu hiện khác nhau như vi phạm các nguyên tắc bắt buộc, không thực hiện đầy đủ quy trình,...

Thiếu trách nhiệm theo quy định tại Điều 360 Bộ luật hình sự là không làm hoặc làm không hết trách nhiệm được giao dẫn đến gây ra hậu quả mà nhẽ ra nếu làm tròn trách nhiệm đối với công việc đó thì không thể gây ra hậu quả.

Bị cáo N2 phụ trách chung vì là Phó Chi cục trưởng được phân công trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, điều hành các Đội quản lý thuế xã, phường của thành phố T; bị cáo N2 không tự mình kiểm tra, giám sát chi tiết việc thu, nộp thuế của các địa bàn được mà nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đó do các Đội, bộ phận của Chi cục C2 thực hiện.

Do đó, không thể quy kết bị cáo N2 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” được. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo Nguyễn Hiếu N2 thống nhất với luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Văn T7, không bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.

Các bị cáo Trần Quốc S, Trần Thanh T1, Dương Bảo T3, Tống Thị Lan Đ2 không tham gia tranh luận.

* Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Tất cả các bị cáo đều trình bày: Các bị cáo đã biết hành vi của các bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra, mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật; xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; luận cứ bào chữa của người bào chữa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo: Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có cơ sở xác định hành vi của bị cáo cụ thể như sau:

Đối với bị cáo Bùi Tấn Đ: Từ năm 2020 đến năm 2023, Bùi Tấn Đ là Đội trưởng Đội quản lý thuế liên phường C thuộc Chi cục thuế khu vực thành phố C2- C; mặc dù không được giao nhiệm vụ thu, nộp tiền thuế nhưng Đ đã lợi dụng chức vụ Đội trưởng của mình để nhận chứng từ thu “Giấy xác nhận nộp tiền thuế” từ Nguyễn Thị X và Võ Thị Ngọc T9, Trần Thanh T1 để trực tiếp thu tiền thuế của nhiều hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I, thành phố T nhưng không nộp vào ngân sách Nhà nước, chiếm đoạt số tiền 973.524.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Đối với bị cáo Trần Quốc S: Bị cáo đã lợi dụng việc lãnh đạo Bưu điện thành phố T giao thực hiện nhiệm vụ thu thuế khoán trên địa bàn Phường C - thành phố T, nhưng khi thu thuế bị cáo đã không nộp vào Ngân sách Nhà nước, chiếm đoạt số tiền 27.500.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo S cho rằng số tiền thu lần thứ nhất của hộ kinh doanh Á1 14.000.000 đồng, bị cáo đã giao cho bị cáo Đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đ khẳng định không có nhận số tiền này của bị cáo S và bản thân bị cáo S cũng không có chứng cứ nào chứng minh cho việc bị cáo đã giao cho Đ số tiền 14.000.000 đồng. Đối với số tiền thu thuế của bà Trần Lê Thúy H5 là 13.500.000 đồng bằng hình thức chuyển vào tài khoản của bị cáo; bị cáo cho rằng bị cáo không chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân, bị cáo chỉ chậm nộp. Tuy nhiên, theo quy định sau khi thu tiền thuế thì trong ngày phải nộp số tiền thu được vào ngân sách nhà nước, nhưng bị cáo không nộp, đến khi phát hiện thì cho rằng chậm nộp là không có căn cứ.

Hành vi của bị cáo 02 lần chiếm đoạt tổng số tiền 27.500.000 đồng; đây là tình tiết định khung “Phạm tội từ 02 lần trở lên” tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự là không đúng quy định. Toà án đã thông báo có thể xét xử bị cáo tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo S theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị X đã không làm hết trách nhiệm được lãnh đạo Bưu điện thành phố T giao trong việc thực hiện hợp đồng thu thuế giữa X và C2, để Bùi Tấn Đ chiếm đoạt số tiền 461.003.900 đồng tiền thuế của nhiều hộ kinh doanh trên địa bàn Phường I trong thời gian dài.

Đối với bị cáo Trần Thanh T1 đã không làm hết trách nhiệm lãnh đạo Bưu điện thành phố Tây Ninh giao trong việc thực hiện cấp phát, quyết toán chứng từ thu, cho nhân viên ủy nhiệm thu không đúng quy định để Bùi Tấn Đ chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng.

Bị cáo Tống Thị Lan Đ2 phụ trách bộ phận kế toán Bưu điện T, đã không thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao để Bùi Tấn Đ chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng.

Bị cáo Dương Bảo T3 – Giám đốc Bưu điện thành phố T đã không thực hiện hết trách nhiệm được giao nên dẫn đến việc Đ chiếm đoạt 729.668.600 đồng tiền thuế trong thời gian dài không bị phát hiện, vi phạm quy định tại Điều 12, 13 của Quy định tổ chức và hoạt động của Bưu điện huyện/thành phố trực thuộc Bưu điện tỉnh T (kèm theo Quyết định số 1155/QĐ-BĐTN ngày 11/10/2018 của Bưu điện tỉnh T).

Bị cáo Nguyễn Hiếu N2 trực tiếp quản lý việc thu, nộp thuế tại Đội quản lý thuế liên phường C nhưng N2 đã thực hiện nhiệm vụ không đúng quy định tại Thông báo số 91/TB-CCTKV ngày 15/01/2021 và các Quyết định số 6841/QĐ-CCTKV ngày 01/10/2021, Quyết định số 58/QĐ-CCTKV ngày 05/01/2022 của Chi cục Trưởng Chi cục thuế khu vực thành phố T- C về việc phân công nhiệm vụ của lãnh đạo Chi cục thuế khu vực thành phố T- C, không kiểm tra, giám sát để Bùi Tấn Đ thu và chiếm đoạt số tiền 729.668.600 đồng.

[3] Hành vi của các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, Nguyễn Thị X, Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3 và Nguyễn Hiếu Nghĩa L3 nguy hiểm cho xã

hội, đã gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, xâm phạm hoạt động đúng đắn trong công tác quản lý tài chính, thu - nộp ngân sách Nhà nước, quản lý hành chính của Chi cục thuế khu vực thành phố T - C và Bưu điện thành phố T

[4] Do đó, hành vi nêu trên của Bùi Tấn Đ đã phạm vào tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 355 Bộ luật Hình sự; hành vi của Trần Quốc S đã phạm vào phạm tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.; hành vi của Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2 đã phạm vào tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Thị X đã phạm vào tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

[5] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, Tống Thị Lan Đ2, Trần Thanh T1, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2 và Nguyễn Thị X, theo điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật; không oan sai.

[6] Các bị cáo đều là những người có chức vụ và được giao thực hiện nhiệm vụ, nhưng đã không làm hết chức năng, nhiệm vụ được giao; bị cáo Bùi Tấn Đ, bị cáo Trần Quốc S biết rõ hành vi “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” và “Tham ô tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật; nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2 và Nguyễn Thị X là những người được giao nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra người thực hiện, đối chiếu việc thu nộp tiền thuế, nhưng các bị cáo đã không thực hiện đúng nhiệm vụ theo quy định, để xảy ra hành vi phạm tội của bị cáo Đ và bị cáo S, dẫn đến gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra; tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm, Hội đồng xét xử phân hoá hình phạt theo quy định của pháp luật.

[7] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.

[7.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Tấn Đ phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, Nguyễn Thị X, Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2,

Dương Bảo T3 và Nguyễn Hiếu N2 thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Bùi Tấn Đ, bị cáo Nguyễn Thị X, bị cáo Nguyễn Hiếu N2 có nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình công tác thời gian dài, được tặng thưởng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp tài chính Việt Nam; Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T13; nhiều Giấy khen và danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Cục. Nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo

Các bị cáo Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án” theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo Trần Quốc S cung cấp thêm tài liệu xác nhận thời gian công tác, phục vụ trong quân đội tại Lữ đoàn 596 hơn 03 năm; bị cáo Dương Bảo T3, bị cáo Trần Thanh T1, bị cáo Tống Thị Lan Đ2 cũng được tặng nhiều giấy khen trong công tác và danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Bị cáo X có cha, mẹ là người có công với Cách mạng. Những tình tiết này được xem là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo.

[8] Các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn so với quy định của Bộ luật đối với các bị cáo là phù hợp.

[9] Đối với các bị cáo Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X mặc dù hành vi đã cấu thành tội phạm, nhưng xét thấy các hành vi của các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S xảy ra từ thời điểm bùng phát dịch bệnh Covid-19; thời điểm khó khăn, bị giãn cách trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ khác và quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Trần Thanh T1, Tống Thị

Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[10] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy khi thực hiện tội phạm, các bị cáo đều là những người có chức vụ, nên áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ trong thời gian nhất định đối với các bị cáo là có căn cứ.

[11] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, số máy: MKTN2LL/A, seri: C39QK6BAGRWL, kèm sim số 0826.334.567 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy), của bị cáo Đ không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nên trả lại cho bị cáo Đ.
  • Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Đ, bị cáo S đã nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả xong.

Đối với Võ Thị Ngọc T9, đầu năm 2021 đã giao cho Bùi Tấn Đ 02 quyển Giấy xác nhận nộp tiền thuế nhưng đến tháng 4/2021, bà T9 nghỉ việc đã giao toàn bộ hồ sơ, sổ sách, công việc cho Trần Thanh T1 nhưng T1 không yêu cầu Đ giao nộp 02 quyển Giấy xác nhận nộp tiền thuế của bà T9 giao khi sử dụng xong nên không xử lý trách nhiệm đối với Võ Thị Ngọc T9 là có căn cứ.

Đối với Lê Thị Phương T12 là thủ quỹ Bưu điện thành phố T, thực hiện nhiệm vụ nhận tiền từ Trần Quốc Sự, Nguyễn Thị X, không quản lý thuế nên không xử lý là có căn cứ.

[12] Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  • Bị cáo Bùi Tấn Đ phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 355 Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Trần Quốc S phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự;
  • Các bị cáo Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Thị X phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

1. Về hình phạt chính:

1.1 Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 355; điểm b, s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Tấn Đ 07 (bảy) năm tù, về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14-3-2024.

1.2 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08-7-2024.

1.3 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Trần Thanh T1 cho Ủy ban nhân dân Phường B3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường B3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát giáo dục bị cáo T1.

1.4 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tống Thị Lan Đ2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 56/2023/HS-ST, ngày 27-7-2023 của Tòa án nHân dân tỉnh Tây Ninh; đã xử phạt bị cáo 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo Tống Thị Lan Đ2 chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án của bản án trước. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Tống Thị Lan Đ2 cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát giáo dục bị cáo Đ2.

1.5 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Bảo T3 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Dương Bảo T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát giáo dục bị cáo T3.

1.6 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 360; điểm s, điểm t, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N2 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Hiếu N2 cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát giáo dục bị cáo N2.

1.7 Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 360; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm

trọng”. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Thị X cho Ủy ban nhân dân Phường C3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường C3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát giáo dục bị cáo X.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 41; khoản 5 Điều 355, khoản 5 Điều 353 và khoản 4 Điều 360 của Bộ luật Hình sự;

  • Cấm các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, đảm nhiệm chức vụ liên quan đến kế toán, tài chính trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
  • Cấm các bị cáo Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X đảm nhiệm chức vụ liên quan đến kế toán, tài chính trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Trả cho bị cáo Đ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, số máy: MKTN2LL/A, seri: C39QK6BAGRWL, kèm sim số 0826.334.567 (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy).
  • Về Bồi thường thiệt hại: Ghi nhận các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S đã bồi thường xong.

4. Về án phí sơ thẩm:

Các bị cáo Bùi Tấn Đ, Trần Quốc S, Trần Thanh T1, Tống Thị Lan Đ2, Dương Bảo T3, Nguyễn Hiếu N2, Nguyễn Thị X; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại TPHCM;
  • -Vụ Giám đốc kiểm tra (Vụ 1);
  • -VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • -VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • -VP CQCSĐT CA tỉnh (PV06);
  • -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • -Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • -Trại tạm giam CATN;
  • -Bị cáo;
  • - Người tham gia TT;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu tập án; - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự (lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tham ô tài sản; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tham ô tài sản; Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tham ô, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger