Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 24-02-2025

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Tuyết Nhung

Ông Nguyễn Sỹ Quân

Ông Phạm Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan – Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/ TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Hoàng Thị C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh ngày: 22/7/1950, tại: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKNKTT: Thôn Á, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ và tên bố: Hoàng Văn B (đã chết; Họ và tên mẹ: Bùi Thị B1 (đã chết); anh, chị, em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ 3; họ tên chồng: Trương Nam (đã chết); Con: 02 đứa (đã chết);

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 05 tiền án, cụ thể:

  • + Ngày 20/11/1990, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên kết án Hoàng Thị C 3 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 02 năm tù về tội “Bắt trộm trẻ em” (bản án số 12). Bị can chấp hành xong bản án vào ngày 30/4/1993.

  • + Ngày 27/11/1993, Tòa án nhân dân thành phố Vinh kết án 04 năm tù về tội “Bắt trộm trẻ em” (bản án số 111) và Ngày 13/3/1997, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An kết án 24 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam (bản án số 10). Tổng hợp hình phạt là 04 năm 02 tháng 15 ngày tù. Bị can chấp hành xong hình phạt nhưng chưa thi hành về bồi thường dân sự.

  • + Ngày 29/10/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết án Hoàng Thị C 12 năm tù về tội “Cướp tài sản” (bản án số 97). Bị can chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/12/2011, chưa thi hành phần bồi thường dân sự.

  • + Ngày 22/01/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An kết án Hoàng Thị C 10 năm tù về tội “Chiếm đoạt trẻ em” (bản án số 08). Bị can chấp hành xong hình phạt vào ngày 13/01/2024, chưa thi hành phần bồi thường dân sự.

Bị tạm giữ từ ngày 13/6/2024 và bị khởi tố bị can chuyển tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Đức Đ– Luật sư Văn phòng L2; địa chỉ: Số nhà B đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

- Bị hại: Bà Lê Thị T, sinh năm 1949; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hoàng Thị B2, sinh năm 1950; địa chỉ: Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

  2. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1984; địa chỉ: A đường N, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

- Người làm chứng

  1. Bà Kiều Thị L, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Á, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

  2. Anh Phan Anh D, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  3. Anh Trần Thế T1, sinh năm 1959; địa chỉ: Khối phố I, tổ dân phố T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  4. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  5. Anh Đỗ Huy C1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

  6. Ông Dương Quang Đ1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

  7. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  8. Bà Hà Thị Mai S1, sinh năm 1971; địa chỉ: Số A, tổ A, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

  9. Ông Lê Hữu L1, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  10. Ông Lò Văn H2, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  11. Bà Đậu Thị Q, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  12. Ông Dương Hữu A, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  13. Bà Trần Thị D1, sinh năm 1984; địa chỉ: D đường N, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

  14. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  15. Ông Hoàn Văn M, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn Á, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

  16. Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong quá trì nh sống tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Hoàng Thị C quen biết với bà Lê Thị T (sinh năm 1949, trú tại xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) đang trông trẻ tại đây. Quá trình nói chuyện với nhau, Hoàng Thị C rủ bà T về tỉnh Hà Tĩnh làm thủ tục xin vào Trung tâm điều dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Hà Tĩnh (thường gọi là Viện dưỡng lão) để dưỡng lão thì bà T đồng ý. Ngày 29/5/2024, Hoàng Thị C và bà Lê Thị T về đến thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh rồi thuê phòng nghỉ qua đêm. Sáng ngày 30/5/2024, Hoàng Thị C đưa bà Lê Thị T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H để làm giấy khám sức khỏe. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Hoàng Thị C đưa bà Lê Thị T đến Viện dưỡng lão tại xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để làm thủ tục. Tuy nhiên, C không đưa giấy tờ gì nên chị Lê Thị H1 (sinh năm 1972, trú tại phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh) là nhân viên của Trung tâm nói với C phải có bản photo Căn cước công dân và đơn xin vào nuôi dưỡng tại Trung tâm có xác nhận của chính quyền địa phương. Ngày 01/6/2024, Hoàng Thị C và bà Lê Thị T đến UBND xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (là quê của bà T) để xin xác nhận thông tin cư trú cho bà T nhưng không làm được với lý do bà T không cư trú ở địa phương đã lâu, hiện xã không có hồ sơ giấy tờ của bà T. Sau đó, Hoàng Thị C và bà T đi về thành phố H thuê phòng để nghỉ ngơi. Tại đây, C nói với bà T đưa tiền cho C để làm thủ tục vào Viện dưỡng lão thì bà T đồng ý đưa số tiền 42.000.000 đồng cho C. Ngày 02/6/2024, Hoàng Thị C và bà T đi đến chùa T2 ở thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh gặp sư thầy Dương Quang Đ1 (sinh năm 1972, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) là sư trụ trì để xin ở lại chùa thì được thầy Đ1 đồng ý. Những ngày sau đó, Hoàng Thị C và bà Lê Thị T đi thăm quan một số địa điểm tại huyện C, thành phố H và thị xã H. Đến ngày 08/6/2024, bà Lê Thị T nói với Canh việc mình không muốn ở lại chùa mà sẽ đi vào tỉnh Bình Dương để sinh sống thì C nói với bà T ngày mai lên chùa thắp hương, báo cho sư thầy biết. Quá trình di chuyển từ tỉnh Bình Dương về thành phố H, Canh luôn mang theo chiếc túi xách bên trong đựng chiếc búa đinh dài khoảng 20cm (chiếc búa do Canh xin của công nhân làm đường vào khoảng thời gian tháng 4/2024 khi C về thành phố H trước đó). Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, Hoàng Thị C mang theo chiếc túi bên trong có chiếc búa định dẫn bà T đi thắp hương tại chùa T2 và nghỉ trưa để chờ gặp sư thầy nhưng không gặp được. Sau khi thắp hương ở chùa trước, Hoàng Thị C rủ bà T đi lên chùa S2 để thắp hương nhưng bà T mệt không đi mà ngồi ở dưới bóng cây chờ bà C. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi thắp hương xong, Hoàng Thị C đi xuống gặp bà T đang ngồi chờ bên đường và rủ bà T vào rừng tràm bên đường để tắm rửa, nghỉ ngơi. Tại đây, bà Lê Thị T nói với Hoàng Thị C trả lại số tiền 42.000.000 đồng cho mình thì C nói đã sử dụng chi tiêu chung hết số tiền 7.030.000 đồng nên không đủ 42.000.000 đồng để trả cho bà T nên hai người cãi nhau. Do bực tức nên khi bà T đang cúi người giặt khăn thì C lấy chiếc búa dài khoảng 20cm, cán bằng gỗ hình tròn, đầu búa bằng kim loại, một đầu có hình hộp chữ nhật, đầu còn lại có hình chữ “V” (thường gọi là búa đinh) ở trong túi xách và cầm bằng tay trái đánh một phát trúng vào phía sau vùng đầu của bà T. Bị đánh nên bà T choáng và đưa tay ra ôm đầu thì thấy máu chảy ra nhiều. Bà T liền hỏi Canh “Tại sao đánh tôi” thì C nói “Mày nằm xuống đó để tao nghĩ lại đã, tao đưa mày vô bệnh viện tao chăm mày cũng được”. Khi bà T nằm xuống đất thì Hoàng Thị C nói “Đưa điện thoại tao xem” thì bà T nói điện thoại đã hết pin nhưng C vẫn giật lấy và bỏ vào túi quần của mình. Sau đó, C nói với bà T “Nếu mày cứ đòi nữa thì tao sẽ gõ cho mày mấy phát nữa, thế nào tao cũng vào tù, rồi mày chết thì tạo chết, mày sống thì tao sống” đồng thời, C tiếp tục dùng chiếc búa đinh đánh liên tục nhiều phát vào vùng đầu bà T. Quá trình này, bà T van xin Canh đừng đánh mình nữa nhưng C vẫn tiếp tục đánh đến khi bà T bị ngất mới dừng lại. Sau khi bà T ngất, Hoàng Thị C sờ vào cổ thấy bà T vẫn còn thở nên C cầm chiếc búa đinh, chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia của bà T bỏ vào túi quần và bỏ đi. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Thị C đi đến quán hàng tạp hóa của chị Đậu Thị Q (sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) nhờ chị Q gọi xe taxi để C đi về thành phố H. Khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, Hoàng Thị C đến nhà nghỉ T3 ở Tổ dân phố E, phường B, thành phố H để nghỉ ngơi. Đến sáng ngày 10/6/2024, Hoàng Thị C mang theo số tiền 34.970.000 đồng và chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia chiếm đoạt của bà T đi vào tỉnh Bình Dương. Trên đường đi, Hoàng Thị C đã ném chiếc búa đinh xuống sông nhưng không rõ đâu. Số tiền chiếm đoạt, Hoàng Thị C đã đưa cho anh Hoàng Văn S (sinh năm 1984, trú tại 1/DC60/86 đường NA5, khu dân cư V, phường T, T, Bình Dương, là cháu ruột của C) cất giữ: 16.000.000 đồng, trả trước thuê phòng trọ cho bà Hoàng Thị B2 (sinh năm 1950, trú tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương): 6.000.000 đồng và mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A15 với giá 4.950.000 đồng; còn chiếc điện thoại Nokia của bà T, C bỏ trong chiếc xô nhựa ở phòng trọ.

Sau khi bị đánh ngất, đến sáng ngày 10/6/2024, bà Lê Thị T mới tỉnh dậy nhưng không có ai phát hiện. Đến sáng ngày 11/6/2024, bà Lê Thị T nằm bò ra gần mép đường thì anh Phan Văn D2 (sinh năm 1976, trú tại thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) đi ngang qua phát hiện và đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 11/6/2024 đến ngày 21/6/2024 thì ra viện. Hậu quả bà Lê Thị T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45%.

- Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 11/6/2024 tại rừng Nghĩa Trang thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh:

Hiện trường xảy ra không còn nguyên vẹn, nạn nhân đã rời khỏi hiện trường. Từ điểm mốc kéo dài 2m về phía Tây ở khu vực rừng tràm cách mép đường 7m là vị trí người dân phát hiện bà Lê Thị T nằm với nhiều vết thương trên đầu (vị trí 1). Từ tâm vị trí 1 kéo dài theo hương Bắc 29m, cách hướng Đông 8m, là tâm vùng vị trí 2 nơi phát hiện nhiều dấu vết màu nâu đã khô có kích thước 1.1x0,7m rải rác trên nền đất và lá khô, cỏ. Tại vị trí (2) có nằm rải rác các loại đồ vật và đã thu giữ gồm: 01 áo khoác dài tay màu đen, 01 chiếc cài tóc bằng nhựa màu đen; 01 hòn đá cứng, không rõ hình dạng có các dấu vết màu nâu; 01 chiếc quần lót màu hồng có bám dính các chất bẩn màu nâu, 01 chiếc khăn mặt màu đỏ nằm trong bao nilong cứng màu xanh; 01 vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu “VitaA”.

- Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể do Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 11/6/2024 phản ảnh:

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể bà Lê Thị T (sinh năm 1949, trú tại xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh): Tại vị trí đầu có 10 vết thương hở, trong đó có 06 vết thương ở đỉnh đầu, kích thước mỗi vết 03x0,5cm; phía trên bên trái trước trán có 02 vết thương, kích thước mỗi vết 02x0,5cm; phía sau đầu có 02 vết thương, kích thước mỗi vết 02x01cm. Trên sống mũi có 01 vết thương, kích thước 02x0,5cm, phía trước cằm trái có 01 vết thương, kích thước 01x0,5cm. Má trái sưng phồng, có nhiều vết thương nhỏ và nhiều vị trí thâm tím. Vị trí xung quanh mắt trái bị thâm tím. Trên đầu có nhiều vết thương xây xát. Mu bàn tay phải bầm tím, sưng nề, ngón áp út có vết thương hở, kích thước 02x01cm.

- Kết luận giám định số 889/KL-KTHS ngày 29/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

Các dấu vết màu nâu dính trên 03 mảnh lá cây và một hòn đá cứng (thu giữ tại hiện trường) do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H trưng cầu là máu người thuộc nhóm máu O trong hệ nhóm máu ABO, cùng nhóm máu với bà Lê Thị T.

- Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 178 ngày 14/6/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa- Sở y tế tỉnh H kết luận:

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Lê Thị T tại thời điểm giám định là 45% và thương tích do vật tày có cạnh tác động vào gây nên.

- Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

Giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím vật lý màu đen, vỏ ngoài màu xanh, số imei 1: 350078315638439, số imei 2: 350078317638437, gắn thẻ sim có số seri: 8984048000310283258, thẻ sim có dán băng dính trong suốt tại thời điểm giám định là 300.000 đồng (Bút lục số 97-98).

*Vật chứng, đồ vật, tài sản đã thu giữ, xử lý:

  • Thu giữ tại hiện trường: 01 áo khoác dài tay màu đen, kích thước trải ra là 70cm x 60cm; 01 chiếc cài tóc bằng nhựa màu đen kích thước 10cm x 07cm; 01 chiếc khăn mặt màu đỏ, kích thước 40cm x 25cm, nằm trong chiếc bao ni lông màu xanh; 01 quần lót màu hồng, có bám dính chất bẩn màu nâu đã khô; 01 vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu “VitaA”, không có nước bên trong; 03 mảnh lá cây; 01 hòn đá cứng, không rõ hình dạng, kích thước 10cm x 07cm có dấu vết màu nâu, đã khô.

  • Thu giữ tại phòng trọ của Hoàng Thị C tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, số imei 1 là 357301902852665, số imei 2 là 357371922852664; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím vật lý mà u đen, vỏ ngoài màu xanh, số imei 1 là 350078315638439, số imei 2 là 350078317638437, gắn thẻ sim có số seri: 8984048000310283258 có dán băng dính trong suốt và số tiền 6.820.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bàn phím số, số Imei: 353102115499631, số Imei2: 353102115499649, gắn thẻ sim có số Seri 8984048000923512938, máy cũ đã qua sử dụng.

  • Thu giữ số tiền 22.000.000 đồng do anh Hoàng Văn S và bà Hoàng Thị B2 giao nộp.

  • Xử lý: Trả lại cho bà Lê Thị T số tiền 28.820.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím vật lý màu đen, vỏ ngoài màu xanh, số imei 1 là 350078315638439, số imei 2 là 350078317638437, gắn thẻ sim có số seri: 8984048000310283258.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị T yêu cầu bị can Hoàng Thị C trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, số Imei 1: 357301902852665, số imei 2: 357371922852664, đã qua sử dụng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 ngày 09/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Thị C về tội “Giết người” quy định tại điểm e, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị C phạm tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”.

a) Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm e, n, p khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 2 Điều 168; Điều 15; Điều 38; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều Điều 57 Bộ luật Hình sự.

— Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C từ 12 (mười hai) năm đến 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”, từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 19 (mười chín) năm đến 21 (hai mươi mốt) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2024).

b) Về dân sự: Quá trình điều tra bị hại đã nhận số tiền 28.820.000 đồng và bị hại có ý kiến được nhận chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, số Imei 1: 357301902852665, số imei 2: 357371922852664, bị cáo mua từ số tiền đã chiếm đoạt của bị hại thay cho phần tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại nhưng chưa thu hồi được, ngoài ra bị cáo không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nào khác vì vậy có căn cứ để xem xét.

* Về vật xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 áo khoác dài tay màu đen, kích thước trải ra là 70cm x 60cm; 01 chiếc cài tóc bằng nhựa màu đen kích thước 10cm x 07cm; 01 chiếc khăn mặt màu đỏ, kích thước 40cm x 25cm, nằm trong chiếc bao ni lông màu xanh; 01 quần lót màu hồng, có bám dính chất bẩn màu nâu đã khô; 01 vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu “VitaA”, không có nước bên trong; 03 mảnh lá cây; 01 hòn đá cứng, không rõ hình dạng, kích thước 10cm x 07cm có dấu vết màu nâu, đã khô.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị C khai báo đầy đủ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã quy kết và không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Nhất trí về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện và tuân thủ đúng thẩm quyền được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến, hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Tại phiên toà bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, xét thấy bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra vì vậy sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Hoàng Thị C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, kết luận định giá tài sản, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và thông qua quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Quá trình làm thuê tại thành phố D, tỉnh Bình Dương, giữa bà Lê Thị T (sinh năm 1949, trú tại xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) và Hoàng Thị C quen biết nhau. Từ ngày 29/5/2024 đến 08/6/2024, Hoàng Thị C đưa bà Lê Thị T về thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để xin vào Viện dưỡng lão tại xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình này, bà T đưa cho Hoàng Thị C số tiền 42.000.000 đồng để chi tiêu chung và làm thủ tục cho bà T vào Viện dưỡng lão. Đến ngày 09/6/2024, tại khu vực rừng tràm Nghĩa trang thuộc thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, bà Lê Thị T nói Hoàng Thị C trả lại số tiền 34.970.000 đồng cho bà T để đi vào tỉnh Bình Dương nhưng bị cáo C không đưa tiền cho bà T và xảy ra mâu thuẫn. Hoàng Thị C đã dùng chiếc búa đinh dài khoảng 20cm, cán bằng gỗ hình tròn, đầu búa bằng kim loại, một đầu có hình hộp chữ nhật, đầu còn lại có hình chữ “V” đánh nhiều phát vào đầu của bà Lê Thị T làm cho bà T bị ngất rồi chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia trị giá 300.000 đồng và số tiền 34.970.000 đồng rồi đi vào tỉnh Bình Dương. Hậu quả, bà Lê Thị T bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 45%.

[2.2]. Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội thấy rằng: Chỉ vì mâu thuẫn nhau về tiền bạc sau khi không xin được vào viện dưỡng lão, Hoàng Thị C đã dùng hung khí nguy hiểm là chiếc búa đinh đập nhiều phát vào đầu của bà Lê Thị T dẫn đến bà T bị thương tích 45%. Sau khi bà T ngất bị cáo đã chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia trị giá 300.000 đồng và số tiền 34.970.000 đồng của bị hại. Do đó bản cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 ngày 09/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Thị C về tội “Giết người” quy định tại điểm e, n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Bản thân bị cáo là người lớn tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhận thức được hành vi dùng búa đinh đánh nhiều phát vào đầu bà Lê Thị T là nguy hiểm đến tính mạng của bà T việc bà T không chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo; ngoài ra bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại trong khi bị hại không còn khả năng phòng vệ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, đi ều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền sự, nhưng có 05 tiền án, nhân thân xấu.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

-Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá tình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã hơn 70 tuổi; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, trên cơ sở đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo đã nhiều lần bị Toà án xét xử về các tội danh và mức hình phạt nghiêm nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này với tính chất nguy hiểm hơn những lần trước, điều này cho thấy sự coi thường pháp luật của bị cáo vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo như hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[4]. Các đối tượng và vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với anh Hoàng Văn S (sinh năm 1984, nơi thường trú: 1/Dc60/86 đường N, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương), bà Hoàng Thị B2 (sinh năm 1950) và chị Nguyễn Thị Q2 (sinh năm 1976, đều trú tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương) là những người đã giữ số tiền 22.000.000 đồng mà bị cáo Hoàng Thị C đã chiếm đoạt của bà Lê Thị T. Quá trình điều tra xác định những người này không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không xử lý đối với anh Hoàng Văn S, bà Hoàng Thị B2, chị Nguyễn Thị Q2 là có căn cứ.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại có nguyện vọng nhận 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, số Imei 1: 357301902852665, số imei 2: 357371922852664, bị cáo mua từ số tiền đã chiếm đoạt của bị hại để thay phần bồi thường còn lại,ngoài ra bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nào khác. Vì vậy không xem xét về phần trách nhiệm dân dự.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, kích thước trải ra là 70cm x 60cm; 01 chiếc cài tóc bằng nhựa màu đen kích thước 10cm x 07cm; 01 chiếc khăn mặt màu đỏ, kích thước 40cm x 25cm, nằm trong chiếc bao ni lông màu xanh; 01 quần lót màu hồng, có bám dính chất bẩn màu nâu đã khô; 01 vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu “VitaA”, không có nước bên trong; 03 mảnh lá cây; 01 hòn đá cứng, không rõ hình dạng, kích thước 10cm x 07cm có dấu vết màu nâu, đã khô.

  • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bàn phím số, số Imei: 353102115499631, số Imei2: 353102115499649, gắn thẻ sim có số Seri 8984048000923512938, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Hoàng Thị C

  • Trả lại cho bị hại bà Lê Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, số Imei 1: 357301902852665, số imei 2: 357371922852664

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Hoàng Thị C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm e, n, p khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 2 Điều 168; Điều 15;Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 57 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị C phạm tội “Giết người và tội “Cướp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”, 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 19 (mười chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2024).

3. Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, kích thước trải ra là 70cm x 60cm; 01 chiếc cài tóc bằng nhựa màu đen kích thước 10cm x 07cm; 01 chiếc khăn mặt màu đỏ, kích thước 40cm x 25cm, nằm trong chiếc bao ni lông màu xanh; 01 quần lót màu hồng, có bám dính chất bẩn màu nâu đã khô; 01 vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu “VitaA”, không có nước bên trong; 03 mảnh lá cây; 01 hòn đá cứng, không rõ hình dạng, kích thước 10cm x 07cm có dấu vết màu nâu, đã khô.

  • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bàn phím số, số Imei: 353102115499631, số Imei2: 353102115499649, gắn thẻ sim có số Seri 8984048000923512938, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo C

  • Trả lại cho bị hại bà Lê Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, số Imei 1: 357301902852665, số imei 2: 357371922852664

Tình trạng cụ thể các vật chứng nêu trên có tại biên bản giao nhận vật chứng số 20/2025, ngày 11/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thị C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC44 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Thi hành án hình sự TAND tỉnh;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có QLVNVLQ;
  • - Phòng LLTP Sở Tư pháp;
  • - Lưu HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm về tội giết người và cướp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người và Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong quá trình sống tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Hoàng Thị C quen biết với bà Lê Thị T (sinh năm 1949, trú tại xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) đang trông trẻ tại đây. Quá trình nói chuyện với nhau, Hoàng Thị C rủ bà T về tỉnh Hà Tĩnh làm thủ tục xin vào Trung tâm điều dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Hà Tĩnh (thường gọi là Viện dưỡng lão) để dưỡng lão thì bà T đồng ý. Ngày 29/5/2024, Hoàng Thị C và bà Lê Thị T về đến thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh rồi thuê phòng nghỉ qua đêm. Sáng ngày 30/5/2024, Hoàng Thị C đưa bà Lê Thị T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H để làm giấy khám sức khỏe. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Hoàng Thị C đưa bà Lê Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger