Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 24/01/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Sỹ Long;

Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng;

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Chí H1, sinh năm 1969.

Nơi thường trú: Tổ 20 tập thể 59 T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở: không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là: Nguyễn Thị Kim A (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

*Bản án số 774/HSST ngày 26/12/1992 TAND TP Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản công dân. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 06 năm tù. Bản án số 611/HSPT ngày 19/4/1993 Tòa phúc thẩm TAND tối cao xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản công dân. Tổng hợp hình phạt chung là 06 năm tù. Ra trại ngày 17/12/1996.

*Bản án số 48/HSST ngày 21/8/2014 TAND huyện Thanh Liêm, Hà Nam, xử phạt 07 năm tù về tội Lưu hành tiền giả. Bản án số 84/HSPT ngày 24/10/2014 của TAND tỉnh Hà Nam xử phạt bị cáo Lê Chí H1 07 năm tù về tội Lưu hành tiền giả. Ra trại ngày 28/8/2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, tại đường Y, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tổ công tác của Công an phường N, phát hiện bắt quả tang Lê Chí H1 điều khiển xe máy Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát: 19G1- 153.57 chở 01 thùng carton bên trong chứa pháo nổ. Tổ công tác đã đưa H1 cùng tang vật về trụ sở làm rõ.

Quá trình điều tra H1 khai nhận: Tối ngày 26/12/2024, H1 uống cà phê tại số A phố V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội, có quen hai người đàn ông ngồi cạnh bàn, một người giới thiệu tên là D1 số điện thoại 0928.754.xxx và một người nữa H1 không biết tên. Qua ngồi nói chuyện thì D1 có rủ H1 đi buôn bán pháo hoa nổ. D1 nói sẽ đưa pháo cho H1 mang đi giao cho khách của D1, bán được thi chia tiền lãi tỷ lệ 40/60%. Hoà đồng ý. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/12/2024, D1 điện thoại vào máy điện thoại của H1 nói đi gặp người tên T1 để lấy pháo nổ rồi đi giao cho khách. Sau đó, D1 có nhắn tin cho H1 địa chỉ lấy pháo nổ ở ngõ E Đ, B, Hà Nội, sau đó chuyển đến khu vực bến xe buýt trên đường Y, B, Hà Nội để giao bán cho một người phụ nữ tên là H2 có số điện thoại 0583.712.xxx với số tiền là 9.800.000 đồng. D1 nhắn tin cho H1 vụ này lãi được 4.800.000 đồng thì sẽ chia lợi nhuận cho H1 là 2.200.000. H1 đã sử dụng xe máy honda vision, biển kiểm soát: 19 G1-153.57 (mượn của bạn gái là Nguyễn Thị Mỹ L) một mình đi đến ngõ E Đ, B, Hà Nội. Khi đến địa điểm trên, H1 gọi điện thoại cho D1 thì D1 nói đợi ở đây một lúc có người sẽ mang pháo ra. H1 đứng đợi 5 phút thì có một người nam giới không xác định được nhân thân giao 01 thùng carton bên trong chứa 04 bánh pháo nổ, 02 giàn pháo hoa nổ. H1 nhận nhiệm vụ mang số pháo này đi bán cho một người tên H2 (chưa xác định được nhân thân, sử dụng số điện thoại 0583.712.xxx) với giá 9.800.000 đồng. Khi H1 di chuyển đến đoạn đường dành cho xe buýt (đối diện số G đường Y, phường N, quận B, thành phố Hà Nội) thì bị tổ công tác của Công an phường N kiểm tra và bắt giữ.

*Tang vật thu giữ của Lê Chí H1:

  • - 02 khối hình hộp, mỗi hộp có kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5) cm, bên ngoài mỗi hộp có in chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính 02 cm được nối với nhau bằng dây màu xanh.
  • - 02 cuộn gồm các quả hình trụ tròn, kích thước (2,6 x 01) cm được kết nối với nhau bằng các dây màu xám có bán kính 30 cm.
  • - 02 cuộn gồm các quả hình trụ tròn kích thước (05 x 02) cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen, lắp sim số: 0978577258.
  • - 01 (một) ví da màu nâu bên trong có số tiền 636.000 đồng.
  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát: 19G1-153.57, số khung: RLHJK3314Y420215, số máy: JF33E-0500353.

Tại bản Kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận như sau:.

  • - 02 khối hình hộp, mỗi hộp có kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5) cm, bên ngoài mỗi hộp có in chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính 2cm đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 2,801 kg.
  • - 02 cuộn có đường kính 30cm, gồm các quả hình trụ tròn màu đỏ dài 2,6 cm, đường kính 01 cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám đều là pháo nổ, tổng khối lượng 2,013 kg.
  • - 02 cuộn gồm các quả hình trụ tròn màu đỏ dài 5 cm, đường kính 2 cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám đều là pháo nổ, tổng khối lượng 3,404 kg.

Tổng khối lượng pháo nổ và pháo hoa nổ thu giữ là: 8,218 kg.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda vision, biển kiểm soát: 19G1 – 153.57 đã qua sử dụng, số khung: RLHJK3314Y420215, số máy: JF33E-0500353, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là bà Nguyễn Thị V (sinh năm 1978, trú tại: P, C, Phú Thọ), bà V cho bạn gái của H1 là Nguyễn Thị Mỹ L mượn để sử dụng, ngày 27/12/2024 H1 mượn xe của L để đi lại. Bà V và chị L đều không biết H1 dùng xe máy để đi buôn bán hàng cấm. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe máy cho bà Nguyễn Thị V.

Đối với đối tượng tên D1 là người rủ Lê Chí H1 đi bán pháo nổ, đối tượng T1 là người giao pháo nổ, đối tượng H2 là người mua pháo nổ. Quá trình điều tra không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể của các đối tượng này nên không có căn cứ để xem xét.

Đối với số điện thoại 0928.754.xxx D1 sử dụng. Quá trình xác minh chủ thuê bao là Cao Thị Như Ý, sinh năm 2000, nơi thường trú: Ấp T, L, T, Sóc Trăng, và số điện thoại 0583.712.xxx H2 sử dụng. Quá trình xác minh chủ thuê bao là Nguyễn Thị Mộng T2, sinh năm 1978, nơi thường trú: quận A, thành phố Hồ Chí Minh, Như Ý và T2 không biết và không sử dụng số điện thoại nêu trên.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số: 17 /VKS-BĐ ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Chí Hoà về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo Lê Chí H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

  • - Về Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 20 triệu đồng.
  • - Về vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để : Tịch thu tiêu hủy: 8,218 kg pháo nổ, pháo hoa nổ thu giữ của bị cáo.

Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội, nên căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung công.

Đối với số tiền 636.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại số tiền này cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc ví da màu nâu thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ chiếc ví này.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Lê Chí H1 khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/12/2024, tại đối diện số G đường Y, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi đang chờ bán trái phép 8,218 kg pháo hoa nổ cho một người phụ nữ tên H2 sử dụng số điện thoại 0583.712.xxx thì bị Tổ công tác của Công an phường N, quận B, thành phố Hà Nội, bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý và sử dụng pháo nổ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị xét xử hai lần về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, “Trộm cắp tài sản công dân” và “Lưu hành tiền giả”. Sau khi chấp hành hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo không lấy đây làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo để sớm trở về với xã hội làm người công dân tốt.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 khối hình hộp, mỗi hộp có kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5) cm, bên ngoài mỗi hộp có in chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính 2cm, tổng khối lượng 2,801 kg; 02 cuộn có đường kính 30cm, gồm các quả hình trụ tròn màu đỏ dài 2,6 cm, đường kính 01 cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám, tổng khối lượng 2,013 kg; 02 cuộn gồm các quả hình trụ tròn màu đỏ dài 5 cm, đường kính 2 cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám, tổng khối lượng 3,404 kg, tất cả đều là pháo nổ, là vật cấm lưu hành, nên căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số pháo này.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc buôn bán hàng cấm vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại này.

Đối với số tiền 636.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại số tiền này cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc ví da màu nâu thu giữ của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ chiếc ví này.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

[7]. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

3. Xử phạt: Bị cáo Lê Chí H1 14 (Mười bốn) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 27/12/2024.

4. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ :

  • + 02 khối hình hộp, mỗi hộp có kích thước (14,5 x 14,5 x 14,5) cm, bên ngoài mỗi hộp có in chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính 2cm đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 2,801 kg.
  • + 02 cuộn có đường kính 30cm, gồm các quả hình trụ tròn màu đỏ dài 2,6 cm, đường kính 01 cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám đều là pháo nổ, tổng khối lượng 2,013 kg.
  • + 02 cuộn gồm các quả hình trụ tròn màu đỏ dài 5 cm, đường kính 2 cm được kết nối với nhau bằng dây dẫn màu xám đều là pháo nổ, tổng khối lượng 3,404 kg.

Tổng khối lượng pháo nổ và pháo hoa nổ là 8,218 kg.

Toàn bộ số pháo nổ nêu trên đang được lưu trữ lại kho vật chứng – Công an quận B, thành phố Hà Nội.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đen,imeil: 353013091351037,số sim 0978577258.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 636.000 đồng.

- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) chiếc ví da màu nâu.

Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Công an quận B, thành phố Hà Nội với Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số: 01 ngày 22/01/2025 Ngân hàng TMCP C.

5. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - CQCSĐT Công an quận Ba Đình;
  • - THAHS quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Nam Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ị cáo Lê Chí H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger