Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 14/2025/HS-ST

Ngày: 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1/ Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
    • 2/ Bà Nguyễn Thị Xuyến
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Dung - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Hải Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với hai bị cáo:

1/ Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994; tại TP .; nơi cư trú: số C đường T, Phường A, Quận D, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S (mất) và mẹ Nguyễn Thị H (mất); tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024; bị cáo có mặt.

2/ Trần Thị Thùy L, sinh năm 1992; tại Long An; nơi thường trú: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc D và bà Bùi Thị H1; có chồng tên Nguyễn Ngọc H2 và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024; bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị H1 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 27/02/2024, Tổ công tác 363 Công an Quận 3 tuần tra đến trước số A đường L, Phường B, Quận C, TP . thì phát hiện đối tượng Nguyễn Văn Đ là tài xế xe ôm công nghệ (G1) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi hình hộp màu xanh lá cây đặt phía trước dưới yên xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 71B4-298.29 do Đ điều khiển có 01 túi nylon hình vuông dán nhãn với nội dung “sạc đa năng ngọc 0398919761”. Kiểm tra bên trong túi nylon có 01 thiết bị điện tử hình tròn dẹp, bên trong thiết bị có chứa 01 túi nylon nhỏ kích thước 1,5x3cm đựng tinh thể rắn không màu nghi là ma túy. Tổ 363 Công an Q đã đưa Đ cùng tang vật về trụ sở Công an P, Quận C để làm rõ, chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q thụ lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, Đ khai nhận như sau: Đ là nhân viên chạy xe công nghệ G1, sử dụng xe máy hiệu Honda Vison, biển số 71B4-298.29. Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 27/02/2024, Đ nhận được đơn giao hàng qua ứng dụng G1 (mã cuốc xe A-63EU5F5GWFN8) từ địa chỉ số B đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An về địa chỉ số A đường L, Phường B, Quận C với giá 109.000 đồng. Đ chạy xe đến địa chỉ trên và gọi điện thoại qua ứng dụng G cho người đặt xe tên Trần Thùy L thì L nói Đ chạy đến khách sạn K số B đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An để nhận hàng. Đ chạy xe đến địa chỉ trên và được L giao cho 01 bịch nylon chứa cục sạc đa năng, L nói Đ giao về địa chỉ đã đặt trên ứng dụng G1. Sau khi kiểm tra bịch nylon xác nhận là chứa sạc dự phòng, Đ chạy xe đến địa chỉ A đường L, Phường B, Quận C và gọi điện thoại cho người nhận hàng. Khi Đ đứng đợi để giao hàng thì Công an Q kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra cục S1 phát hiện bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn không màu, nghi là ma túy nên đã mời Đ về trụ sở Công an Q làm rõ vụ việc. Đ khai nhận không biết bên trong cục sạc dự phòng có chứa ma túy, không quen biết đối với Trần Thùy L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, tiến hành truy xét và kiểm tra phòng số 203 khách sạn K, địa chỉ số B đường N, KP H, thị trấn C, tỉnh Long An, phát hiện Nguyễn Thanh T và Trần Thị Thùy L và thu giữ vật chứng gồm 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu (nghi là ma túy). T và L là người đặt giao cục sạc dự phòng bên trong chứa ma túy qua ứng dụng G1 để tài xế Đ đi giao đến địa chỉ số A đường L, Phường B, Quận C.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, T và L khai nhận như sau:

Thông qua các mối quan hệ xã hội, T đã từng mua ma túy khoảng 06 - 07 lần của đối tượng tên T1 sử dụng số điện thoại 0909.270.xxx (không rõ lai lịch). Vào ngày 24/02/2024, T đã liên hệ với T1 để mua 05g ma túy đá với giá 2.000.000 đồng, T chuyển khoản cho T1 qua số tài khoản 8841427357, ngân hàng B, chủ tài khoản Nguyễn Anh T1. Khoảng 01 tiếng sau khi T chuyển tiền, T1 hẹn giao ma túy cho T tại đường T, ấp E, xã H, huyện B. Sau khi nhận được ma túy, T đem về chia nhỏ vào nhiều túi nylon để bán kiếm lời và giữ lại một ít để sử dụng. Do có quen biết với Trần Thị Thùy L (trước đó T đã 03 lần bán ma túy cho L) nên khoảng 21 giờ ngày 26/02/2024, T hẹn L tìm phòng khách sạn ở tỉnh Long An để ở. Trước khi đến khách sạn, T đem theo 01 túi nylon có chứa ma túy đá, 01 cân tiểu ly, 01 cái nỏ sử dụng ma túy, 04 hột quẹt khò, 01 bình bơm ga, 03 cây kéo, 01 cuộn băng keo hai mặt, 02 cục sạc điện thoại, 01 hộp đựng dây sạc và nhờ người em họ tên T1 chở đi. Khi T1 chở T đến chợ H3 thuộc huyện B thì T1 có việc nên T đã gọi điện cho người bạn tên H2 nhờ H2 đến khách sạn đã hẹn L. Khi gần đến khách sạn thì T và H2 ghé vào 01 quán bún ngồi ăn, sau khi ăn xong thì H2 lấy xe đi về. Khoảng 10 phút sau, L chạy xe đến chỗ T rồi chở T đến khách sạn K, khi đến nơi thì T thuê phòng 203 rồi đi lên phòng còn L chạy xe đi về. Khi ở trên phòng, T lấy ma túy ra sử dụng rồi đi ngủ.

Đến khoảng 09 giờ ngày 27/02/2024, T gọi điện nhờ L chở T ra Ngân hàng S2 để làm thẻ ATM, sau khi làm thẻ xong thì L chở Trường quay lại khách sạn, tại đây, T lấy ma túy ra để sử dụng, L thấy vậy cũng tự ý lấy ma túy của T ra sử dụng. Sử dụng xong ma túy, L xuống lấy xe đi về, còn T đi ngủ. Sau đó, T nhận được tin nhắn Z từ N (không rõ lai lịch, là người quen với T khi cai nghiện chung tại trại cai nghiên Đ) đặt mua 0,5 gam ma túy đá, giao đến số A đường L, Phường B, Quận C, số điện thoại người nhận là 0398.919.xxx. T lấy 0,5gam ma túy để vào túi nylon rồi cho vào 01 cái hộp hình tròn màu đen (hộp đựng dây sạc), sau đó bỏ tất cả vào túi nylon khác rồi dùng băng keo 02 mặt dán lại. Lúc này, L quay lại khách sạn nên T nhờ L đặt xe G1 để giao ma túy cho N thì L đồng ý. T đưa cho L túi nylon đựng chiếc hộp bên trong có ma túy và nhờ L ghi nội dung lên túi là “sạc đa năng ngọc 0398919761” rồi giao cho tài xế. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Công an Q kiểm tra phòng số 203 khách sạn K, phát hiện trong phòng có ma túy và 01 số đồ vật dùng để sử dụng ma túy nên mời T và L về trụ sở để làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 2995/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K1 Công an T3, kết luận:

  • + 01 gói được niêm phong bên ngoài, có dấu vân tay, chữ ký của Nguyễn Văn Đ và hình dấu của Công an P, Quận C bên trong có chứa tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6051g, loại Methamphetamine.
  • + 01 gói được niêm phong bên ngoài, có dấu vân tay, chữ ký của Nguyễn Thanh T và hình dấu của Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An bên trong có chứa tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5941g, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án:

- Thu giữ của Nguyễn Văn Đ:

  • + 01 gói nylon bên trong có một cái hộp hình tròn màu đen, bên ngoài gói nylon có ghi chữ “sạc đa năng ngọc 0398919761";
  • + 01 xe máy hiệu Honda Vision, biển số 71B4 – 298.29, số khung 5833LZ418079, số máy JF86E5124961. Qua xác minh chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T2, ông T2 cho biết mua chiếc xe trên vào năm 2021 với giá 35.000.000 đồng và giao cho con rể là Nguyễn Văn Đ sử dụng (Đã trả lại xe cho anh Đ);
  • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71; 01 điện thoại di động hiệu S3 (Đã trả lại tài sản cho anh Đ).

- Thu giữ của Trần Thị Thùy L:

  • + 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha biển số 62M1-915.03, số khung RLHJA3923NY114171, số máy JA39E2611150. Qua xác minh chủ sở hữu là bà Bùi Thị H1, bà H1 cho biết mua chiếc xe trên vào năm 2022 với giá 23.000.000 đồng và cho con gái là L mượn để sử dụng (Đã nhập kho vật chứng);
  • + 01 điện thoại di động hiệu Realme7; 01 điện thoại di động hiệu Oppo (Đã nhập kho vật chứng).

- Thu giữ của Nguyễn Thanh T:

  • + 04 cây kéo, 01 bình gas hiệu Blue Star; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 10 bịch nylon; 05 hộp quẹt ga (Đã nhập kho vật chứng);
  • + 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15A (Đã nhập kho vật chứng);
  • - Mẫu vật hoàn lại sau khi giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm:
    • + Gói 1: Tinh thể rắn không màu (m1) có khối lượng 0,5423g;
    • + Gói 2: Tinh thể rắn không màu (m2) có khối lượng 0,5344g.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 916 ngày 25/7/2024 (Bút lục số 71).

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKS-Q3 ngày 12/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Thị Thùy L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Hai bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng hai bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với hai bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Áp dụng Điều 38; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy L từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của hai bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Bản kết luận giám định số 2995/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K1 - Công an T3, lời khai nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ cơ sở kết luận:

Ngày 27/02/2024, Nguyễn Thanh T và Trần Thị Thùy L có hành vi bán trái phép 0,6051g ma túy loại Methamphetamine cho đối tượng tên N (không rõ lai lịch), thông qua ứng dụng G1 đặt xe của anh Nguyễn Văn Đ để anh Đ đi giao ma túy cho N tại số A đường L, Phường B, Quận C. Tại phòng số 203 khách sạn K, địa chỉ số B đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An do T thuê trước đó đã thu giữ thêm 0,5941g ma túy, loại Methamphetamine của T cất giữ để bán cho các đối tượng khác. Ngoài hành vi bán ma túy cho N, trước đó T cũng đã từng bán ma túy cho bị cáo L 03 lần.

Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét hai bị cáo đều biết ma túy là chất gây nghiện đã bị Nhà nước cấm mua bán trái phép và là hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, làm phổ biến lối sống nghiện ngập, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội. Trong vụ án này có tính chất đồng phạm giản đơn, nên căn cứ Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự quy định về đồng phạm để có mức án tương xứng với tính chất mức độ, vai trò tham gia của từng bị cáo.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay hai bị cáo đã khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn, hối lỗi nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho hai bị cáo.

[5] Vật chứng vụ án:

  • - Đối với mẫu vật hoàn lại sau khi giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 1: Tinh thể rắn không màu (m1) có khối lượng 0,5423g; Gói 2: Tinh thể rắn không màu (m2) có khối lượng 0,5344g là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha biển số 62M1-915.03, số khung RLHJA3923NY114171, số máy JA39E2611150. Qua xác minh chủ sở hữu là bà Bùi Thị H1, bà H1 cho biết mua chiếc xe trên vào năm 2022 với giá 23.000.000 đồng và cho con gái là L mượn để sử dụng và không biết L sử dụng vào việc phạm tội nên giao trả xe trên cho bà H1 là có căn cứ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme7 thu giữ của L là tài sản riêng, không liên quan đến vụ án nên giao trả cho bị cáo là có căn cứ. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo, L dùng để liên lạc bán ma túy là công cụ phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 04 cây kéo, 01 bình gas hiệu Blue Star; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 10 bịch nylon; 05 hộp quẹt ga thu giữ của T không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15A của T dùng để liên lạc bán ma túy là công cụ phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Đối với đối tượng Nguyễn Anh T1, qua xác minh T1 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra ban hành Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự, ra thông báo truy tìm đối với T1, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

[7] Đối với đối tượng tên N (không rõ lai lịch), là người đặt mua 500.000 đồng tiền ma túy của T, Cơ quan điều tra ban hành Quyết định tách hành vi và tài liệu có liên quan đến vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.

[8] Đối với anh Nguyễn Văn Đ (tài xế xe ôm công nghệ G1) nhận gói hàng do L đặt qua ứng dụng của Công ty G1 và không biết gói hàng L thuê anh Đ đi giao chứa ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để tiến hành xử lý.

[9] Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” giữa L và T tại phòng 203 khách sạn K số B đường N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q đã tiến hành trao đổi, ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã tiếp nhận, thu thập tài liệu để xử lý theo quy định (Bút lục số 231).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.

Căn cứ Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thùy L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thùy L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy với mẫu vật hoàn lại sau khi giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 1: Tinh thể rắn không màu (m1) có khối lượng 0,5423g; Gói 2: Tinh thể rắn không màu (m2) có khối lượng 0,5344g.

Tịch thu, tiêu hủy 04 cây kéo, 01 bình gas hiệu Blue Star; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 10 bịch nylon; 05 hộp quẹt ga; 01 gói nylon bên trong có một cái hộp hình tròn màu đen, bên ngoài gói nylon có ghi chữ “sạc đa năng ngọc 0398919761".

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15A.

Giao trả cho bị cáo L 01 điện thoại di động hiệu Realme7.

Giao trả cho bà Bùi Thị H1 với 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha biển số 62M1-915.03, số khung RLHJA3923NY114171, số máy JA39E2611150.

(Tang vật tịch thu, tiêu hủy; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; Giao trả cho bị cáo L; Giao trả cho bà Bùi Thị H1 được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 136/QĐ-VKS-HS ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3).

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Hai bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - Công an Quận 3;
  • - Nhà tạm giữ CAQ.3;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS Q.3;
  • - UBND P.1, Q.4; UBND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Huệ Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T - Trần Thị Thùy L - “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger