Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 18/6/2025


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Láng

Ông Dương Xuân Tựu

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Ly và bà Hoàng Thị Thu H – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tổ chức phiên tòa trực tuyến diễn ra tại các điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngôn Dương D (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 12/5/1978 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Thanh K, sinh năm 1950 và bà Dương Thị L, sinh năm 1953; Có vợ là Dương Thị P, sinh năm 1983 và 02 con (Con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/5/2009 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 550/QĐ-UBND.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn từ ngày 07/01/2025 sau đó được chuyển đến giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B kể từ ngày 28/02/2025 cho đến nay.

Có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Đinh Xuân D1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Dương Thị P, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Người tham gia tố tụng khác:

  • - Anh Nông Chí T, sinh năm 1984;
  • - Anh Nông Thế T1, sinh năm 1994;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều vắng mặt.

- Ông Nguyễn Duy K1, ông Triệu Đức L1, ông Nông Như Hải K2 - Cán bộ/Chiến sĩ Đội THAHS&HTTP Công an tỉnh B làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ 35 phút ngày 07/01/2025, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Công an xã C, Công an xã xã M đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại địa bàn thôn P, xã M, huyện B thì phát hiện Ngôn Dương D, sinh năm 1978, trú tại thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại hiện trường các tang vật và niêm phong theo quy định, cụ thể như sau:

  • + Tại trong lòng bàn tay trái của Ngôn D2 Dẫn có 01 (Một) gói được gói bằng túi nilon màu hồng, bên trong có 05 (Năm) gói được gói bằng giấy in màu trắng có viết chữ, trong 05 (Năm) gói đều có chứa chất chất dạng cục, bột màu trắng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu D1.
  • + Tại túi áo phía trước bên trái chiếc áo mưa màu đỏ đen đang mặc của N Dẫn có 01 (Một) gói được gói bằng túi nilon màu trắng, bên trong có 02 (Hai) gói trong đó 01 (Một) gói được gói bằng túi nilon màu trắng chứa chất dạng cục, bột màu trắng; 01 (Một) gói bằng ống nhựa màu hồng bên trong có chứa 02 (Hai) viên nén hình trụ tròn màu hồng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu D2.
  • + Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ tại túi quần phía sau bên phải đang mặc của Dẫn 01 (Một) chiếc ví da màu nâu, trong ví có 01 (Một) căn cước công dân, 01 (Một) giấy phép lái xe, 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS 97B2-07275, các giấy tờ này đều mang tên Ngôn Dương D cùng số tiền 1.640.000đ (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng); thu giữ tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Dẫn 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, nhãn hiệu Realme, tiến hành niêm phong toàn bộ số tiền và đồ vật, giấy tờ vào phong bì ký hiệu D3; thu giữ 01 (Một) xe mô tô tô BKS 97B2-07275 nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn xám đen, xe đã qua sử dụng.
  • + Ngôn Dương D tự giao nộp 01 (Một) vật chứng là chiếc áo mưa màu đỏ, đen D dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang và 01 (Một) chiếc quần dài, quần vải màu đen, áo mưa và quần đều cũ đã qua sử dụng, tiến hành niêm phong vào trong hộp giấy màu đỏ, trắng, xung quanh bề mặt hộp có in nhiều chữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Ngôn Dương D có địa chỉ ở thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, kết quả:

  • + Thu giữ tại dưới đệm trên giường trong buồng ngủ của Dẫn có 01 (Một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, đen, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu Q1.
  • + Thu giữ tại trên ổ điện trên giường trong buồng ngủ của Dẫn có 01 (Một) gói được gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu Q2.
  • + Thu giữ tại ngăn tủ trong buồng ngủ của Dẫn 02 (Hai) gói trong đó có 01 (Một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng và 01 (Một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt in chữ, bên trong 02 (Hai) gói đều chứa chất dạng cục, bột màu trắng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu Q3.
  • + Thu giữ tại trong giỏ nhựa để trên giường trong phòng khách nhà của D 01 (Một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt in chữ, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu Q4.
  • + Thu giữ tại trong giỏ nhựa treo trên tường nhà bếp của Dẫn 02 (Hai) gói được gói bằng giấy tráng kim loại, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu Q5.
  • + Thu giữ tại trong ngăn cửa tủ lạnh trong nhà bếp của D 02 (Hai) lọ nhựa trong đó có 01 (Một) lọ nhựa màu trắng, có nắp vặn, bên trong có chứa dung dịch màu hồng; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng, có nắp vặn, bên ngoài dán nhãn ghi dòng chữ Stadaxmin, bên trong chứa dung dịch màu hồng, tiến hành niêm phong 02 (Hai) lọ nhựa chứa dung dịch này vào phong bì ký hiệu Q6.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy ngày 08/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định:

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu D1:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,99g (Không phẩy chín chín gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu B₁ để gửi trưng cầu giám định.

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu D2:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 2,61g (Hai phẩy sáu một gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu B2 để gửi trưng cầu giám định.
  • + Cân riêng 02 (Hai) viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,21g (Không phẩy hai một gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu B3 để gửi trưng cầu giám định.

Tổng khối lượng chất nghi là ma túy khi bắt quả tang Ngôn Dương D niêm phong trong các phong bì D1 và D2 là 3,81g (Ba phẩy tám một gam).

Niêm phong toàn bộ phong bì, túi nilon, ống nhựa, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B4.

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu Q1:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,01g (Không phẩy không một gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu T₁ để gửi trưng cầu giám định.

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu Q2:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,03g (Không phẩy không ba gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu T2 để gửi trưng cầu giám định.

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu Q3:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,07g (Không phẩy không bảy gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu T3 để gửi trưng cầu giám định.

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu Q4:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,10g (Không phẩy một không gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu T4 để gửi trưng cầu giám định.

- Mở niêm phong phong bì ký hiệu Q5:

  • + Cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Ngôn Dương D có khối lượng là 0,09g (Không phẩy không chín gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu T5 để gửi trưng cầu giám định.

Tổng khối lượng chất nghi là ma túy thu giữ được khi khám xét nhà Ngôn Dương Dẫn niêm phong trong các phong bì Q1, Q2, Q3, Q4, Q5, là 0,30g (Không phẩy ba không gam).

Niêm phong toàn bộ phong bì, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu T6.

Tại bản Kết luận giám định số 63/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

  • + “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong các phong bì ký hiệu B1, B2, T1, T2, T3, T4, T5 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroin (H), có tên khoa học là D3, có khối lượng tương ứng lần lượt là 0,99g (Không phẩy chín chín gam), 2,61g (Hai phẩy sáu một gam), 0,01g (Không phẩy không một gam), 0,03g (Không phẩy không ba gam), 0,07g (Không phẩy không bảy gam), 0,10g (Không phẩy một không gam), 0,09g (Không phẩy không chín gam).
  • + “Mẫu viên nén hình trụ tròn màu hồng trong phong bì ký hiệu B3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tên khoa học là (+)-(S)-N-a-dimethylphenethylamine, có khối lượng là 0,21g (Không phẩy hai một gam)”.

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T1, T2 đã dùng để tiến hành giám định hết; mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1, B2, B3, T3, T4, T5 có khối lượng còn lại tương ứng lần lượt là 0,95g (Không phẩy chín năm gam), 2,57g (Hai phẩy năm bảy gam), 0,18g (Không phẩy một tám gam), 0,03g (Không phẩy không ba gam), 0,06g (Không phẩy không sáu gam), 0,06g (Không phẩy không sáu gam) cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T44 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Đối với 02 (Hai) lọ nhựa chứa dung dịch màu hồng niêm phong trong phong bì ký hiệu Q6 được gửi cho V Bộ C1 để trưng cầu giám định chất ma túy theo quy định tại các Điều 36, 39, 68, 205, 208/BLTTHS.

Tại bản Kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 26/02/2025 của V Bộ C1 kết luận:

  • + Mẫu chất lỏng màu hồng trong lọ nhựa dán nhãn Stadaxmin gửi giám định là dung dịch Methadone, thể tích mẫu là 106,0ml. Khối lượng Methadone trong mẫu là 0,095g (Không phẩy không chín năm gam).
  • + Tìm thấy C và T2 trong mẫu chất lỏng màu hồng trong lọ nhựa còn lại (không nhãn) gửi giám định, thể tích mẫu là 47,5ml. Khối lượng Codeine trong mẫu là 0,028g (Không phẩy không hai tám gam).

Sau giám định, toàn bộ đối tượng giám định và vỏ bao gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu 419/KL-KTHS hoàn trả cho cơ quan trưng cầu kèm theo Kết luận giám định.

* Tại giai đoạn điều tra, truy tố:

Ngôn Dương D đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, nguồn gốc, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ, cụ thể:

Đối với 3,81g (Ba phẩy tám một gam) ma túy bắt quả tang tại thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào hồi 19 giờ 35 phút ngày 07/01/2025, D khai nhận: Vào khoảng khoảng 16 giờ ngày 07/01/2025 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Ngôn Dương D đã một mình điều khiển xe mô tô BKS 97B2-07275 của mình đi xuống thành phố B để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu ngã ba phường N, thành phố B thì D gặp một người đàn ông không quen biết có biểu hiện giống người nghiện nên D đã bắt chuyện và hỏi mua ma túy thì được người này bán cho 01 (Một) gói ma túy gồm loại Heroine và hồng phiến (Methamphetamine) với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, D điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến thôn P, xã M thì D dừng xe lại và chia số ma túy đã mua được trước đó ra thành 05 (Năm) gói nhỏ khác nhau rồi cất giấu trong người thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.

Đối với 0,30g (Không phẩy ba không gam) ma túy và 02 (Hai) lọ nhựa chứa dung dịch màu hồng thu giữ được tại nhà của Ngôn Dương D khi cơ quan công an khám xét nhà ở và công trình phụ cận có liên quan vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 08/1/2025, D khai nhận: Chất dạng cục, bột màu trắng là ma túy Heroine được D mua với một người đàn ông không quen biết tại phường S, thành phố B vào khoảng tháng 8/2024 với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được 01 (Một) gói ma túy Heroine, D đã sử dụng tuy nhiên chưa sử dụng hết nên chia thành 07 (Bảy) gói nhỏ và cất giấu tại nhiều vị trí khác nhau trong nhà; dung dịch màu hồng trong 02 (Hai) lọ nhựa là dung dịch Methadone được D mua với một người đàn ông không quen biết tại phường T, thành phố T vào khoảng tháng 6/2024 D chưa sử dụng đến nên được cất giấu trong tủ lạnh ở nhà riêng tại địa chỉ thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Toàn bộ số ma túy Heroine, M và dung dịch M1 được D mua và tàng trữ đều với mục đích là để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra còn xác định được Ngôn Dương D là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng.

Tại cáo trạng số 09/CT-VKSBB ngày 16/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Ngôn Dương D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249/BLHS.

* Tại phiên tòa:

  • - Ngôn Dương D thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình như Cáo trạng đã nêu.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị P là vợ của bị cáo trình bày: Chiếc xe mô tô BKS 97B2-07275 nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn xám đen, xe đã qua sử dụng là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng chị P và bị cáo D, mua từ khoảng năm 2021 để sử dụng chung cho gia đình. Ngày 07/01/2025 bị cáo D tự ý sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy thì không nói cho chị P biết nên chị không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chỉ tịch thu ½ giá trị của chiếc xe đối với phần nghĩa vụ của bị cáo D và trả lại ½ giá trị của chiếc xe cho chị P.
  • - Về việc duy trì quyền công tố tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn:

Tại bản Cáo trạng công bố tại phiên tòa, căn cứ Điều 306/BLTTHS đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể bổ sung nội dung “phong bì T3 có khối lượng 0,07g” tại dòng thứ 11 từ dưới lên của trang 3 tại cáo trạng số 09/CT-VKSBB ngày 16/5/2025 đã ban hành do sơ suất trong soạn thảo văn bản. Bị cáo nhất trí với nội dung bổ sung này, không có ý kiến gì.

Các nội dung khác giữ nguyên nội dung như bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Ngôn Dương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Ngôn Dương D từ 06 (Sáu) năm đến 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2025.
  • + Áp dụng khoản 5 Điều 249/BLHS: Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000₫ đến 6.000.000₫ nộp ngân sách Nhà nước.
  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH, các Điều 29, 33, 37 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 244 Bộ luật Dân sự: Tịch thu tiêu hủy đối với các phong bì niêm phong ký hiệu T44, T6, B4, 419/KL-KTHS và 01 (Một) hộp giấy bên trong có chứa quần vải và áo mưa đã qua sử dụng của bị cáo.

Đối với 01 (Một) xe mô tô BKS 97B2-07275, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn xám đen, xe cũ đã qua sử dụng cùng 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số đăng ký 97B2-07275 mang tên Ngôn Dương D là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Dương Thị P, đề nghị tịch thu ½ giá trị của chiếc xe để sung quỹ Nhà nước, trả lại cho chị Dương Thị P ½ giá trị của chiếc xe.

Trả lại cho bị cáo 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, nhãn hiệu Realme, 01 (Một) ví da màu nâu, 01 (Một) căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Ngôn Dương D và số tiền 1.640.000đ (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), tuy nhiên tạm giữ điện thoại và số tiền để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

  • + Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Ngôn Dương D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ngôn Dương D mức án 05 (Năm) đến 06 (S) năm tù. Bên cạnh đó, người bào chữa cũng đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  • - Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật đề nghị áp dụng theo bản cáo trạng và phần luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, không tự bào chữa, không tranh luận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với nội dung đề nghị liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình, không tranh luận.

Người bào chữa tranh luận về nội dung đánh giá nhân thân của bị cáo trong phần luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đã đối đáp đầy đủ các ý kiến của người bào chữa theo quy định.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo và người bào chữa cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:

Vào hồi 19 giờ 35 phút ngày 07/01/2025 tại thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Ngôn Dương D đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,60g (Ba phẩy sáu không gam) ma túy loại Heroine và 0,21g (Không phẩy hai một gam) ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 3,81g (Ba phẩy tám một gam).

Ngoài ra, qua khám xét khẩn cấp nơi ở và công trình phụ cận có liên quan đối với Ngôn Dương D còn phát hiện tại nhiều vị trí trong nhà của D tại địa chỉ thôn B, xã C, tỉnh Bắc Kạn, Ngôn Dương D đã tàng trữ 0,30g (Không phẩy ba không gam) ma túy loại Heroine.

Tổng số ma túy Ngôn Dương D tàng trữ trong vụ án này có khối lượng là 4,11g (Bốn phẩy một một gam) bao gồm cả ma túy loại Heroine và ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Ngoài ra, D còn tàng trữ trái phép 0,095g (Không phẩy không chín năm gam) ma túy loại Methadone và 0,028g (Không phẩy không hai tám gam) ma túy loại Codeine tại nhà riêng, tuy nhiên khối lượng không đủ mức định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249/BLHS do đó Dẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ đối với 2 loại chất ma túy này.

Căn cứ lời khai, tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án và qua quá trình thẩm tra tại phiên tòa, xác định số ma túy loại Heroine và Methamphetamine bị cáo tàng trữ có nguồn gốc khác nhau do bị cáo mua được vào thời gian khác nhau (ngày 07/01/2025 và khoảng tháng 8/2024) đều với mục đích mua về tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Các hành vi này của bị cáo đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 249/BLHS, do đó bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội từ 02 lần trở lên” là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249/BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ coi thường và không chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Ngôn Dương D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm Ngôn Dương D thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Nhân thân: Ngày 27/5/2009 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 550/QĐ-UBND. Đã chấp hành xong Quyết định và trở về địa phương sinh sống nhưng lại không chú tâm rèn luyện bản thân, phấn đấu thành công dân tốt mà tiếp tục tái nghiện để dẫn đến hành vi vi phạm tàng trữ trái phép ma túy.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51/BLHS.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52/BLHS.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; quá trình điều tra, xác minh về hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế của bị cáo và qua thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy có căn cứ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.

[6] Đối với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị P:

Chiếc xe mô tô tô dán nhãn Honda Wave RSX, màu sơn xám đen, BKS 97B2-07275, tình trạng cũ đã qua sử dụng: Xét thấy đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là sở hữu chung hợp nhất của bị cáo Ngôn Dương D và vợ là chị Dương Thị P. Ngày 07/01/2025 bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy thì chị Dương Thị P không biết. Do đó, đề nghị xin trả lại một phần giá trị chiếc xe của chị Dương Thị P là có căn cứ, cần được chấp nhận..

[7] Về vật chứng:

Gồm có:

  • - 02 (Hai) phong bì ký hiệu T44 và 419/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định cùng giấy gói, phong bì niêm phong cũ; 02 (Hai) phong bì ký hiệu B4 và T6 bên trong có chứa phong bì, túi nilon, dây cao su, ống nhựa, giấy gói cũ; 01 (Một) hộp giấy màu đỏ, trắng bên trong hộp chứa 01 (Một) chiếc quần vải màu đen và 01 (Một) áo mưa màu đỏ, đen đều đã qua sử dụng được bị cáo dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội. Xác định đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) xe mô tô 97B2-07275; loại xe 2 bánh từ 50-175cm³; nhãn hiệu HONDA; số loại WAVE RSX FI, màu sơn xám đen, số khung RLHJA3849MY121594; số máy JA52E0267528; dung tích xi lanh 109,2cm³, năm sản xuất 2021, số chỗ ngồi 2, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, và 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đối với chiếc xe trên, tên đăng ký Ngôn Dương D: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và vợ là chị Dương Thị P đều có lời khai thống nhất về nguồn gốc và quyền sở hữu đối chiếc xe mô tô nói trên là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo được hình thành trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội thì chị Dương Thị P không biết. Do đó, cần tịch thu đối với chiếc xe này, trong đó, tịch thu, hóa giá, sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe, trả lại cho chị Dương Thị P ½ giá trị còn lại của chiếc xe.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, nhãn hiệu Realme, tình trạng cũ, đã qua sử dụng: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận khi đi mua ma túy là bị cáo tự đi tìm người bán ma túy và giao dịch trực tiếp, không liên lạc qua điện thoại. Tại biên bản kiểm tra điện thoại ngày 17/02/2025 đối với chiếc điện thoại nêu trên tiến hành kiểm tra nội dung cuộc gọi, tin nhắn và các ứng dụng trên điện thoại không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của Ngôn Dương D. Do đó, cần trả lại cho bị cáo theo quy định, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 (Một) ví da màu nâu, 01 (Một) căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Ngôn Dương D và số tiền 1.640.000đ (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Ngôn Dương D. Do đó, cần trả lại cho bị cáo theo quy định, tuy nhiên tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

[8] Về vấn đề khác:

Đối với những người đàn ông đã bán ma túy cho Ngôn D2 Dẫn vào ngày 07/01/2025 và khoảng tháng 8/2024: Quá trình điều tra không xác minh, xác định được đối tượng, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

Đối với hành vi tàng trữ 0,095g (Không phẩy không chín năm gam) ma túy loại M1 và 0,028g (Không phẩy không hai tám gam) ma túy loại Codeine của Ngôn Dương D: Hành vi này không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249/BLHS, do đó cơ quan điều tra chuyển tài liệu liên quan đến cơ quan có thẩm quyên để xem xét, xử lý vi phạm hành chính theo quy định, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

Đối với việc Ngôn Dương D sử dụng chiếc xe mô tô BKS 97B2-07275 để đi mua ma túy thì chị P là đồng sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe không biết nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là có căn cứ, HĐXX xét thấy là phù hợp.

Đối với việc Ngôn Dương D cất giấu, tàng trữ ma túy tại nhà riêng thì chị P không biết nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là có căn cứ, HĐXX xét thấy là phù hợp.

[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và người bào chữa:

Tại bản cáo trạng công bố tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể bổ sung nội dung về thông tin phong bì niêm phong khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo tại dòng 11 từ dưới lên của trang 3 của bản cáo trạng như sau: “phong bì T3 có khối lượng 0,07g”. Xét thấy việc bổ sung thông tin này của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án về diễn biến, quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ hoặc làm xấu đi tình trạng của bị cáo, bị cáo cũng nhất trí với nội dung này, do đó cần được chấp nhận.

Xét thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và đề nghị của người bào chữa về việc giải quyết vụ án áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điểu 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 29, 33, 37 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 244 Bộ luật Dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngôn Dương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt:

[2.1]. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Ngôn Dương D 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2025.

[2.2]. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Ngôn Dương D 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

[3]. Về vật chứng:

[3.1]. Tịch thu tiêu hủy đối với: 02 (Hai) phong bì ký hiệu T44 và 419/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định cùng giấy gói, phong bì niêm phong cũ; 02 (Hai) phong bì ký hiệu B4 và T6 bên trong có chứa phong bì, túi nilon, dây cao su, ống nhựa, giấy gói cũ; 01 (Một) hộp giấy màu đỏ, trắng bên trong hộp chứa 01 (Một) chiếc quần vải màu đen và 01 (Một) áo mưa màu đỏ, đen đều đã qua sử dụng được bị cáo dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội.

[3.2]. Tịch thu, hóa giá đối với: 01 (Một) xe mô tô 97B2-07275; loại xe 2 bánh từ 50-175cm³; nhãn hiệu HONDA; số loại WAVE RSX FI, màu sơn xám đen, số khung RLHJA3849MY121594; số máy JA52E0267528; dung tích xi lanh 109,2cm³, năm sản xuất 2021, số chỗ ngồi 2, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, và 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đối với chiếc xe trên, tên đăng ký Ngôn Dương D.

Trong đó, tịch thu, hóa giá, sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe, trả lại ½ giá trị còn lại của chiếc xe cho chị Dương Thị P, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

[3.3]. Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, nhãn hiệu Realme, tình trạng cũ, đã qua sử dụng; 01 (Một) ví da màu nâu, 01 (Một) căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Ngôn Dương D và số tiền 1.640.000đ (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Tuy nhiên tạm giữ điện thoại và số tiền để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 19/5/2025 giữa Công an tỉnh B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)

[4.] Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bể;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Bể;
  • - THAHS;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ào hồi 19 giờ 35 phút ngày 07/01/2025 tại thôn P, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Ngôn Dương D đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,60g (Ba phẩy sáu không gam) ma túy loại Heroine và 0,21g (Không phẩy hai một gam) ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 3,81g (Ba phẩy tám một gam). Ngoài ra, qua khám xét khẩn cấp nơi ở và công trình phụ cận có liên quan đối với Ngôn Dương D còn phát hiện tại nhiều vị trí trong nhà của D tại địa chỉ thôn B, xã C, tỉnh Bắc Kạn, Ngôn Dương D đã tàng trữ 0,30g (Không phẩy ba không gam) ma túy loại Heroine. Tổng số ma túy Ngôn Dương D tàng trữ trong vụ án này có khối lượng là 4,11g (Bốn phẩy một một gam) bao gồm cả ma túy loại Heroine và ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Ngoài ra, D còn tàng trữ trái phép 0,095g (Không phẩy không chín năm gam) ma túy loại Methadone và 0,028g (Không phẩy không hai tám gam) ma túy loại Codeine tại nhà riêng, tuy nhiên khối lượng không đủ mức định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249/BLHS do đó Dẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ đối với 2 loại chất ma túy này.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger