Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VỊ THANH

TỈNH HẬU GIANG


Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 18-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Nhân

Ông Nguyễn Minh Trực

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khánh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N (tên gọi khác: B), sinh ngày 13/02/2006, tại: V, Hậu Giang. Nơi cư trú: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: trước lần phạm tội này bị cáo chưa bị Tòa án nào kết án hay bị cơ quan nào xử lý hành chính; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố V.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lưu Quốc H, sinh ngày 25/01/2015.

Nơi cư trú: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lưu Văn T1, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (Là cha ruột của bị hại). Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Đồng Thị Cẩm N1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

Đại diện Nhà trường nơi bị hại học tập: Bà Trịnh Thị Thu T2, sinh năm 1981. Giáo viên trường Tiểu học N3. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn B1, sinh năm 2002.
  2. Nơi cư trú: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

  3. Trương Hoài P, sinh năm 1982.
  4. Nơi cư trú: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

- Người tham gia tố tụng khác: Nguyễn Ngọc T3, sinh ngày 10/6/2009. Là người làm chứng. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C (là cha của Nguyễn Ngọc T3). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 07/8/2024, Công an phường I, thành phố V nhận được tin báo của Lưu Văn T1, sinh năm 1976, đăng ký thường trú: Khu V, phường I, thành phố V (nay là khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang) về việc vào chiều ngày 30/7/2024 tại khu vực 2, phường I, thành phố V, con ruột của ông T1 là Lưu Quốc H đến nhà cậu ruột là Nguyễn Văn C để chơi với con của C là Nguyễn Ngọc T3 thì bị Nguyễn Văn N (con ruột của C) kêu H đưa điện thoại cho N nhưng H không đưa nên N dùng tay bóp cổ và dùng dao đe dọa H để cướp điện thoại của H.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) cây dao thái lan, chiều dài 21,8cm, cán bằng nhựa, màu vàng, dài 9,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 12,3cm và nơi rộng nhất của lưỡi dao là 1,8cm.
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A10S, màu đen, số máy SM-A107F/DS, dung lượng 32GB, số seri R9WMA0P5MTS, số Imeil 352121113752040, số Imei 2 352122112502048, đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2024 của Hội đồng thẩm định UBND thành phố V, kết luận giá trị còn lại: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A10S, màu đen, số máy SM-A107F/DS, dung lượng 32GB, số seri R9WMA0P5MTS, số Imeil 352121113752040, số Imei 2 352122112502048, đã qua sử dụng là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định được như sau: Vào khoảng trưa ngày 30/7/2024, Lưu Quốc H, sinh ngày 25/01/2015, đăng ký thường trú tại khu V, phường I, thành phố V (nay là khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang) đến nhà Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (là cậu ruột của H) tại khu vực 2, phường I, thành phố V để chơi cùng với Nguyễn Ngọc T3, sinh ngày 10/6/2009 (là con ruột của C).

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H đang chơi trước nhà thì Nguyễn Văn N kêu H đưa điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu đen của H cho N và N mua xe điều khiển cho H nhưng H không đồng ý. Sau đó, N đi vào phòng ngủ của N nằm, một lúc sau thì H đi vào phòng ngủ của N. Khi H vào phòng, N tiếp tục kêu H đưa điện thoại cho N nhưng H vẫn không đồng ý nên N dùng tay kẹp cổ và nhấc H lên khỏi mặt đất và nói “Đưa điện thoại cho tao, khùng khùng tao giết mầy à”, nói xong N thả H xuống, H đòi đi ra ngoài nhưng N chặn cửa phòng không cho ra. Một lúc sau, N cho H đi ra ngoài và đi theo H xuống khu vực nhà bếp. Khi đến khu vực nhà bếp thì N lấy cây dao thái lan, cán màu vàng gọt cóc cho H ăn. Sau đó, N dùng cây dao dùng để gọt cóc kề vào cổ của H kêu H đưa điện thoại và nói “Không đưa tao giết mày”, H sợ nên đưa điện thoại cho N.

Sau khi lấy được điện thoại thì N đem điện thoại vừa lấy được đi đến nhà của Nguyễn Văn B1, sinh ngày 29/5/2002 tại khu vực 6, phường I, thành phố V nhờ Bằng bán dùm. Do điện thoại bị bể màn hình nên B1 nói với N không bán được để B1 lấy điện thoại hiệu S J7 đang sử dụng đem đi cầm về đưa tiền cho N và lấy điện thoại N sử dụng. Sau đó, B1 cầm điện thoại đi một lúc thì quay về và lấy tiền của mình đưa cho N số tiền 300.000 đồng. B1 nói với N đi cầm điện thoại với mục đích là giữ điện thoại của N, khi nào N trả tiền thì B1 trả lại điện thoại.

Qua làm việc được biết điện thoại hiệu Samsung là của ông Lưu Văn T1 mua lại điện thoại cũ của người bạn tên T4 ở phường V, thành phố V, nhưng không rõ địa chỉ với số tiền 400.000 đồng cho Lưu Quốc H là con ruột của Tại sử dụng.

Ngày 06/12/2024, CQ CSĐT Công an thành phố V đã trả 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A10S, màu đen, số máy SM-A107F/DS, số seri R9WMA0P5MTS, số Imeil 352121113752040, số Imei 2 352122112502048, đã qua sử dụng cho ông Lưu Văn T1.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Ông Lưu Văn T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Đồng thời, bị hại và gia đình bị hại có đơn xin bãi nại miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  • Nguyên nhờ Nguyễn Văn B1 đi cầm điện thoại vừa cướp được của H dùm, B1 lấy 300.000 đồng của B1 đưa cho N rồi giữ điện thoại lại để sử dụng, sau đó thì B1 giao nộp điện thoại cho Cơ quan điều tra. Qua điều tra, Bằng không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 300.000 đồng.

Vật chứng còn lại của vụ án được nhập kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh để bảo quản và xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-TPVT ngày 02/01/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị:

Áp dụng: điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự bị hại không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Phát biểu tự bào chữa bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, xin tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người đại diện tại phiên tòa đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Phát biểu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Trợ giúp viên pháp lý thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, thống nhất với phát biểu của bị hại và người đại diện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố:

[2.1]. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Khai nhận do muốn có tiền để tiêu xài nên vào khoảng hơn 14 giờ ngày 30/7/2024, tại nhà Nguyễn Văn C thuộc khu V, phường I, thành phố V, Nguyễn Văn N dùng tay bóp cổ và sau đó dùng cây dao thái lan, chiều dài 21,8cm, màu vàng kề vào cổ của Lưu Quốc H để đe dọa và làm cho H sợ rồi đưa điện thoại Samsung Galaxy A10S, màu đen cho N chiếm đoạt. Theo kết luật định giá tài sản 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A10S, màu đen giá trị còn lại là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào các chứng cứ này, đối chiếu quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự). Toà có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng dao Thái Lan (là phương tiện nguy hiểm) đe dọa ngay tức khắc đối với bị hại làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại của bị hại mà bị cáo Nguyễn Văn N thực hiện như nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

[2.2]. Về khung hình phạt: Bị cáo N dùng dao Thái Lan là phương tiện nguy hiểm để đe dọa, uy hiếp bị hại là người dưới 16 tuổi để nhằm chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội:

[3.1]. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của người bị hại, làm mất an ninh, trật tự, gây hoang mang cho người dân tại địa phương trong việc quản lý tài sản.

[3.2]. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên nhận thức được việc khống chế, ép buộc người khác giao tài sản trái ý muốn là vi phạm pháp luật và có thể phạm tội. Nhưng vì để thoả mãn nhu cầu cá nhân, muốn nhanh chóng có tài sản sử dụng hoặc tiêu xài bị cáo vẫn thực hiện, hành vi này của bị cáo thể hiện tính cố ý.

[4]. Xét nhân thân: bị cáo N có nhân thân trước lần thực hiện hành vi phạm tội này chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bản thân bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định lại là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy.

[5]. Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại và người đại diện trong quá trình điều tra có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7]. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc là tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung tội phạm.

[8]. Về tang vật chứng: 01 (một) cây dao Thái lan, chiều dài 21.8cm, cán bằng nhựa, màu vàng, dài 9,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 12,3cm và nơi rộng nhất của lưỡi dao là 1,8cm là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại và người đại diện không thể hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Về phát biểu luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: xét, đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, các vấn đề khác là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Cướp tài sản.

Áp dụng: Điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 09/8/2024).

Áp dụng: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn N 45 (Bốn mươi lăm) ngày. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án (ngày 18/3/2025) để đảm bảo cho việc thi hành án.

2. Về tang vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao Thái lan, chiều dài 21,8cm, cán bằng nhựa, màu vàng, dài 9,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 12,3cm và nơi rộng nhất của lưỡi dao là 1,8cm.

3. Về án phí: Áp dụng: khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh N2; Nguyễn Minh Trực

Nguyễn Đăng D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về cướp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Cướp tài sản theo điểm d, e Khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sử phạt bị cáo 07 năm tù giam.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger