Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 16/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • - Ông Phạm Hoàn Thiện, Nguyên Phó Bí thư Huyện đoàn Phú Hòa.
    • - Ông Trần Văn Phương, Phó Trưởng Ban dân vận huyện Phú Hòa.
  • Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa: ông Trần Thế Hiển, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐ-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Ngọc S, sinh năm 2002;

Nơi cư trú: khu phố N, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1963 và bà Lê Thị L, sinh năm 1963; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện P, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh P từ ngày 22/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • - Cháu Lê Thị Thanh T, sinh ngày 09/3/2011; Người đại diện hợp pháp cho cháu T: Ông Lê Văn B, sinh năm 1983. Đồng địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Cháu T và ông B có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cháu T: Ông Võ Hoàng K, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Có mặt.
  • - Bà Lê Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Cháu Võ Thị Tâm A, sinh ngày 05/11/2011; Người đại diện hợp pháp cho cháu A: Bà Phan Thị Thu T1, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Cháu A và bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bà Lê Thị V, sinh năm 1988; địa chỉ: số I L, phường B, Tp ., tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1988; địa chỉ: số A L, phường D, Tp ., tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1963; địa chỉ: KP N, phường A, Tp ., tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • Cháu Lê Thị Kim Y, sinh năm 2011, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Người đại diện hợp pháp cho cháu Y: bà Nguyễn Thị T2; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Cháu Y1 và bà T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 19/10/2024 đến ngày 21/10/2024, Huỳnh Ngọc S đã 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác trên địa bàn xã H, huyện P, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 19/10/2024, Huỳnh Ngọc S điều khiển xe mô tô 78C1-742.52 đi trên đường Đ, khi đến đoạn Km 00+250m thuộc thôn Đ, xã H thì phát hiện chị Lê Thị T điều khiển xe mô tô biển số 78E1-521.06 lưu hành phía trước cùng chiều, trong túi quần sau bên trái của T có 01 điện thoại di động hiệu Vivo I33S. S điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái giật lấy điện thoại rồi tăng ga tẩu thoát. Sau đó, S đem điện thoại trên bán cho chị Nguyễn Thị Ánh N, chủ tiệm điện thoại Hiểu D ở A L, Phường D, TP T được 800.000 đồng, S tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 21/10/2024, Huỳnh Ngọc S điều khiển xe mô tô 78C1-742.52 đi trên đường Đ, phát hiện Lê Thị Thanh T, sinh ngày 09/3/2011 (13 tuổi 07 tháng 12 ngày) đang điều khiển xe đạp điện chở bạn là Lê Thị Kim Y lưu hành phía trước cùng chiều trên đường Đ thuộc thôn Đ, xã H, trong túi quần phía sau bên phải của T có 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12. S điều khiển xe mô tô áp sát giật lấy điện thoại của T rồi tăng ga tẩu thoát. Sau đó S đem điện thoại cướp được đến tiệm Đ tại số I L, phường B bán cho chị Lê Thị V được 950.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P, kết luận: Điện thoại Vivo, loại 133S, màu vàng có giá trị 5.500.000 đồng, điện thoại di động Samsung Galaxy A12 có giá trị 2.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án và tài sản tạm giữ:

Đã tạm giữ và trả lại chủ sở hữu: điện thoại di động Samsung Galaxy A12.

Đang tạm giữ chờ xử lý: 01 xe mô tô biển số 78C1-742.52 và giấy tờ xe, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, 02 thẻ sim điện thoại di động, 01 áo khoác màu đen, 01 quần vải, 01 đôi dép, 01 mũ bảo hiểm.

Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại Lê Thị T 3.000.000 đồng, bị hại Lê Thị Thanh T đã nhận lại tài sản. Không ai yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSPH ngày 12/03/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc S về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Huỳnh Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn S1 giữ nguyên yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 78C1-742.52.
  • - Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo S và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc S từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/10/2024; Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu gì về dân sự nên đề nghị không xem xét; Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô 78C1-742.52 và giấy tờ xe; Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max; Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã qua sử dụng gồm 02 thẻ sim điện thoại di động, 01 áo khoác màu đen, 01 quần vải, 01 đôi dép, 01 mũ bảo hiểm; Về án phí: bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cháu Lê Thị Thanh T thống nhất lời luận tội của Viện kiểm sát nhân nhân huyện P đối với bị cáo S về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị hại T đã nhận lại được tài sản, bị cáo S đã tác động gia đình bồi thường, xin lỗi các bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: bị cáo S đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người tham gia tố tụng cung cấp: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không khiếu nại gì đối với các quyết định, văn bản tố tụng ở giai đoạn điều tra nên đều là chứng cứ hợp pháp.

[2] Đối với việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng. Đồng thời tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, cùng các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Vào các ngày 19/10/2024 và 21/10/2024, để có tiền tiêu xài cá nhân Huỳnh Ngọc S điều khiển xe mô tô biển số 78C1-742.52 thực hiện 02 lần hành vi cướp giật tài sản của bị hại bà Lê Thị T chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Vivo I33S và bị hại cháu Lê Thị Thanh T (lúc này 13 tuổi 07 tháng 12 ngày) chiếm đoạt 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12. Sau đó bị cáo mang tài sản cướp giật được bán cho bà Nguyễn Thị Ánh N và bà Lê Thị V lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản điện thoại Vivo, loại I33S, màu vàng có giá trị 5.500.000 đồng, điện thoại di động Samsung Galaxy A12 có giá trị 2.000.000 đồng.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo dùng xe mô tô (xe máy) để thực hiện việc cướp giật tài sản là thủ đoạn nguy hiểm đến tính mạng sức khoẻ của bị hại; bị hại Thủy lúc này 13 tuổi 07 tháng 12 ngày là dưới 16 tuổi do đó bị cáo phạm tội thuộc tình tiết định khung dùng thủ đoạn nguy hiểm và phạm tội đối với người dưới 16 tuổi. Nên bản Cáo trạng số 10/CT-VKSPH ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc S về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo thực hiện 02 lần hành vi cướp giật tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Lê Thị T số tiền 3.000.000 đồng và người liên quan Lê Thị V số tiền 950.000 đồng, các bị hại đều có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt chính:

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, được các bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt và đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với thủ đoạn nguy hiểm và phạm tội đối với người dưới 16 tuổi là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[8] Vật chứng liên quan đến vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô 78C1-742.52 và giấy tờ xe đứng tên Huỳnh Ngọc S vì là phương tiện dùng để phạm tội.

Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max vì không liên quan đến việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã qua sử dụng không còn giá trị gồm 02 thẻ sim điện thoại di động, 01 áo khoác màu đen, 01 quần vải, 01 đôi dép, 01 mũ bảo hiểm.

[9] Đối với yêu cầu trả lại xe mô tô 78C1-742.52 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn S1: ông S1 trình bày xe mô tô trên đứng tên Huỳnh Ngọc S và do S quản lý, sử dụng tuy nhiên lúc mua xe thì gia đình có cho S số tiền 45.000.000 đồng để mua xe nên yêu cầu được nhận lại xe. Xét thấy, xe mô tô 78C1-742.52 đứng tên chủ sở hữu là Huỳnh Ngọc S và S là người trực tiếp quản lý sử dụng xe. Khi thực hiện hành vi phạm tội S dùng xe mô tô trên để làm công cụ, phương tiện phạm tội, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Ông S1 được quyền khởi kiện vụ án dân sự về tài sản chung đối với Huỳnh Ngọc S về số tiền ông đã góp mua xe trên.

[10] Đối với Nguyễn Thị Ánh N và Lê Thị V khi mua điện thoại di động không biết tài sản trên do Huỳnh Ngọc S phạm tội mà có nên không xem xét xử lý theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

    Căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Ngọc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc S 04 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/10/2024.

  3. Về xử lý vật chứng:

    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô 78C1-742.52 và giấy tờ xe đứng tên Huỳnh Ngọc S.
    • - Trả cho bị cáo Huỳnh Ngọc S 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max.
    • - Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã qua sử dụng không còn giá trị gồm 02 thẻ sim điện thoại di động, 01 áo khoác màu đen, 01 quần vải, 01 đôi dép, 01 mũ bảo hiểm.

    (Vật chứng vụ án có tình trạng, đặc điểm như mô tả theo Biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng ngày 19/3/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P với Chi cục Thi hành án dân huyện Phú Hòa)

  4. Về án phí: bị cáo Huỳnh Ngọc S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn S1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Phú Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên;
  • - Phòng PV06, Công an tỉnh phú Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Hòa;
  • - Bị cáo, NTGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Thu Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN–

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sỹ cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger