Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAM LỘ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 16/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Đàn

Các Hội thẩm nhân dân: - ông Nguyễn Như Chiến;

ông Phạm Văn Thình

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Võ Thị Lệ T, sinh ngày 28/5/1972 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S (đã chết) và bà Trần Thị S1; chồng: Trần Văn L, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: ngày 03/10/2022 bị Chủ tịch UBND xã C, huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt ngày 20/10/2022.

2. Võ Thị Phương M, sinh ngày 15/10/1967 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Bùi Thị S2; chồng: Lê Văn S3, có 02 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không;

3. Nguyễn Xuân H1, sinh ngày: 15/6/1982 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị L1; vợ: Võ Thị N, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 29/7/2014, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt năm 2014;

- Ngày 01/12/2015, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Che dấu việc đánh bạc trái phép” bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt ngày 08/12/2015.

4. Nguyễn Thị A, sinh ngày: 06/9/1984 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà Lê Thị T1; chồng: Lê Văn H3, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.

5. Nguyễn Thị L2, sinh ngày: 26/02/1977 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Trần Thị G; chồng: Nguyễn Hữu Đ, có 07 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.

6. Võ Thị N, sinh ngày: 06/3/1983 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N2 và bà Hoàng Thị C; chồng: Nguyễn Xuân H1, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 25/5/2020 bị Chủ tịch UBND xã C, huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt ngày 02/6/2020.

7. Trần Văn L, tên gọi khác: Ba, sinh ngày: 08/10/1971 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) và bà Trần Thị H4; vợ: Võ Thị Lệ T, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền sự: không.

Các bị cáo bị tạm giữ từ 17/01/2025 đến 23/01/2025 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 17/01/2025, Võ Thị Lệ T gọi điện, nhắn tin đến các tài khoản Messenger của Nguyễn Thị A, Võ Thị N, Nguyễn Thị L2, Võ Thị Phương M đến nhà đánh bài (đánh bài xì lác, thắng thua bằng tiền). T nói với chồng là Trần Văn L biết việc hẹn N, M, A, L2 đến nhà đánh bạc, dặn L mở cửa, hướng dẫn cất xe khi những người này đến.

Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, M, L2, A và vợ chồng N - H1 đến nhà T để đánh bạc, khi số người này vào nhà xong, L khóa cửa nhà rồi đến phòng ngủ gian trước quan sát camera để cảnh giới. T trãi tấm thảm xốp ra giữa nền nhà, đưa bộ bài tây 52 lá ra, các bị cáo cùng nhau đánh bài “xì lác”, mỗi ván cược 20.000 đồng, lần lượt mỗi người cầm cái 03 ván, nếu thắng “xì lác” hoặc “xì bàn” thì người làm cái bỏ 10.000 đồng vào hộp nhựa T để sẵn được gọi là “tiền xâu” chi phí tiền mua bài, nước uống khi đánh bạc, nếu dư thì vợ chồng T - Lý hưởng. Đến 15 giờ cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bài thắng thua bằng tiền thì bị Công an huyện C kiểm tra, bắt giữ, số tiền thu giữ tại chổ ngồi của T 100.000 đồng, A 680.000 đồng, H1 500.000 đồng, L2 1.000.000 đồng, M 980.000 đồng, N 1.370.000 đồng, tiền xâu trong hộp nhựa 140.000 đồng, tổng là 4.770.000 đồng. Tiền các bị cáo mang theo ở ví, túi: Thu 2.100.000 đồng, A 810.000 đồng, H1 800.000 đồng, tổng là 3.710.000 đồng, các bị cáo thừa nhận tiền này mang theo để đánh bạc. Tổng số tiền T, A, H1, L2, M, N đánh bạc là 8.480.000 đồng.

Theo Kết luận giám định số 212/KL-KTHS, ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q thì tất cả các tờ giấy bạc bị thu giữ đều là tiền VNĐ.

Cáo trạng số 13/CT-VKSCL ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ truy tố các bị cáo T, A, H1, L2, N, M, L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, trong đó L đồng phạm với vai trò giúp sức.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo Võ Thị Lệ T, Nguyễn Thị A, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị L2, Võ Thị N, Võ Thị Phương M và Trần Văn L phạm tội “Đánh bạc";
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo T: từ 12.000.000đ đến 15.000.000đ; Hữu, M: từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ; A, L2, N, L: từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ..
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước các điện thoại di động và tiền thu giữ của các bị cáo; tịch thu và tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội do không có giá trị; trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị A xe mô tô, trả lại cho Võ Thị N điện thoại di động Iphone 8 Plus.
  • - Buộc các bị cáo chịu án phí HSST theo quy định;
  • - Tiếp tục tạm giữ các khoản tiền các bị cáo nộp để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại gì.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, nội dung lời khai phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ khẳng định ngày 17/01/2025, Võ Thị Lệ T, Nguyễn Xuân H1, Võ Thị Phương M, Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị L2, Võ Thị Nguyệt thực H5 hành vi đánh bài “xì lác” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 8.480.000 đồng. Trần Văn L không trực tiếp đánh bạc nhưng cảnh giới cho các bị cáo đánh bạc nên đồng phạm với vai trò giúp sức. Hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Trong vụ án này, bị cáo T phạm tội với vai trò khởi xướng. T, H1, M đã từng bị xử phạt hành chính. Lý đồng phạm với vai trò giúp sức.

[4] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đang nuôi con nhỏ. Bị cáo T, H1 có nhiều thành tích xuất sắc được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng. Bị cáo L2, L có bố mẹ là người có công với N3. Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, cần áp dụng thêm khoản 1 và 3 Điều 54 BLHS xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất hình phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là phù hợp.

[5] Các điện thoại di động và tiền thu giữ của các bị cáo là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước; các vật còn lại không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy; xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 74G1-118.22 thu giữ của Nguyễn Thị A không phải là công cụ, phương tiện trực tiếp dùng vào việc phạm tội và điện thoại Iphone 8 plus, số sêri: FD8VK6ZĄCM0 thu giữ của Võ Thị N không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

[7] Hủy bỏ các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Võ Thị Lệ T, Võ Thị Phương M, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị L2, Võ Thị N, Trần Văn L phạm tội “Đánh bạc”;

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, đối với bị cáo Trần Văn L thêm Điều 17; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 54, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt:

  • - Võ Thị Lệ Thu: 12.000.000 đồng;
  • - Võ Thị Phương M: 10.000.000đồng;
  • - Nguyễn Xuân H1: 10.000.000 đồng;
  • - Nguyễn Thị A: 8.000.000 đồng;
  • - Nguyễn Thị L2: 8.000.000 đồng;
  • - Võ Thị N: 8.000.000 đồng;
  • - Trần Văn L: 7.000.000 đồng.

2. Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
  • + 01 (một) điện thoại Oppo A5 2020, kiểu máy: CPH1931, lưng máy màu trắng, màn hình cảm ứng, imei1: 86394407044891, imei2: 863944047044883, máy đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) điện thoại Iphone 11, số sêri: C7CZW04TN72K, lưng máy màu trắng, màn hình cảm ứng, imei1: 356550104639145, imei2: 35655010463914, máy đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) điện thoại S4 A33 5G, số sêri: RFCW10IFR1E, lưng máy màu xanh, màn hình cảm ứng, mặt trước góc trên bên trái đã bị nứt vỡ, imeil: 351494693368094, imei2: 353439743368097, máy đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) điện thoại Oppo F11, kiểu máy CPH 1911, mặt lưng màu tím, màn hình cảm ứng, imeil: 863782040914599, imei2: 863782040914581, máy đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A05, số sêri: R9WWB0AFM5E; số imeil: 354035908776568; số imei2: 354978668776569, vỏ màu xanh;
  • + Tiền do Ngân hàng N4 phát hành, gồm: 03 (ba) tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 VNĐ; 09 (chín) tờ giấy bạc mệnh giá 200.000 VNĐ; 24 (hai mươi bốn) tờ giấy bạc mệnh giá 100.000 VNĐ; 36 (ba mươi sáu) tờ giấy bạc mệnh giá 50.000 VNĐ; 39 (ba mươi chín) tờ giấy bạc mệnh giá 20.000 VNĐ; 20 (hai mươi) tờ giấy bạc mệnh giá 10.000 VNĐ; được niêm phong có ký hiệu: KL212PC0921012025.
  • - Tịch thu và tiêu hủy:
  • + 01 thẻ sim có dãy số: 8401230212934255 IDE, số thuê bao: 0898203454, gắn trong điện thoại Oppo A5 2020;
  • + 01 (một) thẻ sim V có dãy số 8984048008826576668, số thuê bao 0972934777, gắn trong điện thoại Iphone 11;
  • + 01 thẻ sim Viettel, có dãy số 8984048008819934561, số thuê bao 0373547761 và 01 thẻ sim Vinaphone có dãy số: 89840200010748453743, số thuê bao 0948633045, gắn trong điện thoại Galaxy A33 5G;
  • + 01 thẻ sim Viettel, có dãy số 89840200010580224319, số thuê bao 0944887233, gắn trong điện thoại Oppo F11;
  • + 01 thẻ sim có số thuê bao: 0397673029, gắn trong điện thoại S4;
  • + 01 (một) hộp nhựa trong suốt, hình trụ tròn, không có nắp đậy, đường kính 10,5cm, cao 22cm, bên ngoài dán giấy có in chư “THẠCH RAU CÂU”, đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) bộ bài tây gồm 52 lá bài, đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) tấm xốp có in nhiều họa tiết màu trắng xanh, kích thước (1,9 x 1,8)m, đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) tấm vải màu xám, kích thước (01 x 01)m, đã qua sử dụng;
  • - Trả lại cho Nguyễn Thị A: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen, BKS 74G1-118.22, số khung RLCUE3220HY074008, số máy E3X9E-328457, dung tích xi lanh: 110,3; xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật; xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. Trả lại cho Võ Thị N: 01(một) điện thoại Iphone 8 plus, số sêri: FD8VK6ZĄCM0, lưng máy màu trắng, màn hình cảm ứng, imeil: 352908090084960. Bên trong không gắn thẻ sim điện thoại. Máy đã qua sử dụng.

(Các vật chứng có tại Chi cục THADS huyện C theo biên bản giao nhận ngày 28/02/2025).

3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Võ Thị Lệ T, Nguyễn Thị A, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thị L2, Võ Thị N, Võ Thị Phương M, Trần Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Cam Lộ;
  • - Phòng CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Cam Lộ;
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Lệ T cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger