|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 15/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thư
Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thị Diệu
Ông Trương Thanh Tuyết
Bà Nguyễn Thị Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Lưu Văn Cảm – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi khác: H lãi), sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Phước; nơi thường trú: Tổ D, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: Tổ D, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1959, gia đình bị cáo có ba anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; bị cáo có vợ Lưu Thị S, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và hai người con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020;
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 06/3/2024, bị Công an xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 06/3/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Luật sư Trần Hòa A – Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: số D, quốc lộ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954, địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện tham gia tố tụng của bị hại: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1975; Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện nay: Nhà T, số D đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Lê Văn T1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Trần Văn C1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Trương Văn P, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Phạm Quốc D, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Nguyễn Thị Thu Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 18/7/2024, Nguyễn Văn H, Trần Văn C1, Trương Văn P và Phạm Quốc D đến ở nhờ tại nhà ông Lê Văn T1, cư trú tại: ấp T, xã T, huyện B để làm thuê (cưa củi điều). Cùng ngày, Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1992, HKTT: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước là bạn của anh C1 đến uống rượu và ở lại tại đây. Đến khuya ngày 18/7/2024, ông T1 bị mất tiền thì T2 nghi ngờ là do H lấy trộm nên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nhưng được mọi người can ngăn nên không xảy ra chuyện gì.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/07/2024, sau khi đã uống rượu, H đi về nhà ông T1 thì thấy T2 đang ngồi ăn cơm và uống rượu cùng với anh C1 và chị Nguyễn Thị Thu Đ tại phòng bếp nên H cũng vào ngồi uống rượu chung. Trong lúc uống rượu, T2 nhắc lại việc ông T1 bị mất tiền, T2 nói với H “Mày trả tiền cho chú N1 đi”, H nói không lấy nhưng T2 vẫn nhắc đi nhắc lại nên giữa T2 và H xảy ra mâu thuẫn, T2 cầm 01 con dao rựa dài 58,9cm có cán bằng gỗ, dạng 01 cạnh sắc, bản rộng nhất 5,2cm, đầu dao cong, mũi nhọn, còn H cũng cầm 01 con dao rựa dài 87cm, cán bằng tre, dạng 01 cạnh sắc, đầu dao bằng thách thức nhau nhưng được mọi người can ngăn nên không xảy ra xô xát. Sau đó, T2 và H tiếp
tục vào ngồi uống rượu. Được một lúc, giữa T2 và H tiếp tục có lời nói thách thức nhau, khi H nói không uống rượu nữa thì bị T2 đấm vào mặt, H không nói gì rồi đi vào phòng ngủ thì T2 kêu H tiếp tục ra uống rượu. Lúc này, anh P và anh D đi bán củi về, cũng vào ngồi ăn uống chung. Sau khi ăn xong, chị Đ lấy xe đi mua thuốc lá. Ngồi được một lúc, H đứng dậy đi lấy đồ đi tắm thì nhìn thấy 01 con dao, loại dao thái lan dài 22,3cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,7cm, một cạnh sắc, mũi dao nhọn ở trên mặt kệ bếp nên cầm vào trong phòng tắm để trên nắp máy giặt và lấy quần áo che lại. T2 ở bên ngoài đập cửa không cho H tắm nên H tiếp tục ra uống rượu. Lúc này, T2 vẫn tiếp tục chửi và doạ đánh H nên H đứng dậy đi vào phòng tắm lấy con dao thái lan, cầm bằng tay phải rồi đi đến trước mặt T2 và đâm 01 nhát trúng vào vùng cổ T2, bị đâm T2 khom người đứng dậy thì bị H đâm tiếp 02 nhát trúng vào vùng ngực bên trái. Thấy T2 ôm cổ và bị chảy nhiều máu, H ném con dao ra phía trước hiên nhà; lúc này P ngồi gần đó mới biết và hô hoán cho C1 và D đang đứng trong khu vực bếp và ông T1 đang ở trong phòng tắm biết. Ông T1 lấy 01 cái khăn trong phòng tắm đưa cho H, H quấn khăn vào cổ của T2 để cầm máu và hô hoán cho mọi người biết để đưa T2 đi cấp cứu nhưng T2 đã tử vong ngay sau đó. Sau khi biết T2 đã chết, H đi đến Công an xã T để đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 782/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính: Vết thương thủng cổ. Đứt gần hoàn toàn động mạch cảnh phải. Sốc mất máu cấp.
- Kết luận nguyên nhân chết: Nguyễn Văn T2 bị vết thương thủng động mạch cảnh, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong.
Tại Kết luận giám định ADN số 434/24/KLGDADN-PYQG ngày 08/08/2024 của V kết luận:
- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên phần lưỡi của con dao thái lan, cán bằng nhựa, lưỡi dao nhọn bằng kim loại, một lưỡi sắc gửi giám định, 02 mẫu thu dấu vết màu nâu đỏ trên cảnh cửa và trên tường, dấu vết màu nâu đỏ trên quần áo của Nguyễn Văn H: Dương tính.
- ADN thu từ mẫu phết toàn bộ bề mặt phần cán của con dao gửi giám định trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn H trên các locus STR đã so sánh.
- ADN thu từ vết màu nâu đỏ trên phần lưỡi của con dao gửi giám định, 02 mẫu thu vết màu nâu đỏ trên cánh cửa và trên tường, dấu vết màu nâu đỏ trên quần áo của Nguyễn Văn H trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn T2 trên các locus STR đã so sánh.
- ADN thu từ dấu vết nâu đỏ trên chiếc quần của Nguyễn Văn H có hiện diện đầy đủ các alen của Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn H trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- ADN thu từ 02 mẫu tăm bông thu chất bám dính kẽ 10 đầu ngón tay của Nguyễn Văn Thanh T3 khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn T2, không trùng khớp với ADN của Nguyễn Văn H trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- ADN thu từ 02 mẫu tăm bông thu chất bám dính kẽ 10 đầu ngón tay của Nguyễn Văn H trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Văn H, không trùng khớp với ADN của Nguyễn Văn T2 trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Kết luận giám định số 4594/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C2 tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định cồn và ma tuý trong mẫu máu và nước tiểu của bị hại Nguyễn Văn T2:
- Mẫu nước tiểu gửi giám định không đủ điều kiện để giám định chất ma tuý.
- Mẫu máu gửi giám định có tìm thấy thành phần E, nồng độ Ethanol là 356,93 mg/100ml máu, không tìm thấy thành phần các chất ma tuý theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 503/KLVGTT-TTPY ngày 26/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận:
- Con dao dạng dao thái lan đã thu giữ tại hiện trường khi tác động bằng phần mũi dao và lưỡi dao vào cơ thể có thể gây ra được tổn thương vùng cổ, vùng ngực của Nguyễn Văn T2;
- Trong tư thế thực nghiệm điều tra, khi Nguyễn Văn H cầm con dao tác động vào cơ thể có thể tạo ra được các thương tích trên cơ thể của nạn nhân Nguyễn Văn T2.
*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường:
- 01 (một) con dao, dạng dao thái lan dài 22,3cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,7cm có dấu vết vỡ nhựa, lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, mũi nhọn, trên dao có dấu vết cong vênh.
- 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 87cm, cán bằng tre dài 60,5cm dạng trụ tròn đường kính 3,5cm; lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, đầu bằng.
Ông Lê Văn T1 giao nộp: 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 58,9cm, chuôi dao rỗng dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc dài 25cm, bản rộng nhất 5,2cm, mũi dao nhọn, cong.
Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 (một) quần dài màu đen (quần tây) và 01 (một) áo sơmi dài tay caro màu xanh nâu trắng, cúc áo màu trắng và 01 đôi dép, dạng dép sỏ ngón, màu đen, kích thước (26 x 10,6)cm.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị hại Nguyễn Văn T2 yêu cầu bồi thường bồi thường chi phí mai táng số tiền 40.000.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Hiện bị can Nguyễn Văn H chưa thực hiện bồi thường.
Cáo trạng số 05/CT-VKSBP-P2 ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với bị cáo.
Đại diện bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí mai táng tổng số tiền 40.000.000 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu nào khác.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H tại Cáo trạng số 05/CT-VKSBP-P2 ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.
Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức hình phạt từ 14 (mười bốn) năm đến 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý các vật chứng theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu bồi thường bồi thường chi phí mai táng số tiền 40.000.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên theo yêu cầu của bị hại. Do đó, cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp phát bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo H số tiền 40.000.000 đồng cho đại diện bị hại.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H:
Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây án, bị cáo đã ra Cơ quan Công an đầu thú.
- Được đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Nguyên nhân xảy ra vụ án có một phần lỗi của bị hại.
Từ những căn cứ và luận cứ nêu trên, tại phiên tòa hôm nay, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo để bị
cáo có cơ hội làm lại cuộc đời và tiếp tục có điều kiện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời về lo cho mẹ già, con nhỏ và sớm khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra - Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, các kết luận giám định, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[3] Ngày 19/7/2024, tại nhà ông Lê Văn T1 thuộc ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước thì Nguyễn Văn H bị Nguyễn Văn T2 nghi ngờ lấy trộm tiền của ông T1 nên xảy ra mâu thuẫn, H và T2 mỗi người cầm 01 con dao rựa thách thức đánh nhau nhưng được can ngăn nên không xảy ra xô xát. Sau đó, khi cùng nhau uống rượu tại phòng bếp nhà ông T1, do bực tức vì bị T2 đấm vào mặt, chửi, đe doạ nên H đã dùng 01 con dao nhọn (dạng dao Thái Lan) cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại có một cạnh sắc, mũi nhọn đâm T2 03 nhát, trong đó có 01 nhát đâm trúng vào vùng cổ của T2 làm thủng động mạch cảnh, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 782/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Vết thương thủng cổ, đứt gần hoàn toàn động mạch cảnh phải, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong.
[4] Hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào vùng trọng yếu và các vùng khác trên cơ thể bị hại như cổ, ngực, sốc mất máu cấp dẫn đến tử vong. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các kết luận giám định, biên bản, bản ảnh, sơ đồ khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng và phù hợp
với các chứng cứ, tài liệu khác của vụ án nên có đầy đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm vào tội giết người - có tính chất côn đồ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Bình Phước truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[5] Xét thấy, hành vi bị cáo thực hiện đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến đến sức khỏe, tính mạng của con người, là khách thể được Bộ luật Hình sự ưu tiên bảo vệ.
[6] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc thực hiện hành vi phạm tội như trên là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, phạm tội trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình do bị cáo đã uống nhiều bia, do một phần lỗi của bị hại, bị cáo đã sử dụng con dao đâm chết bị hại là xâm phạm trực tiếp đến quyền được sống của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nơi vụ án xảy ra, ngoài ra bị cáo đang có 01 tiền sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, học tập và tu dưỡng bản thân nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tù có thời hạn tương xứng, phù hợp để trừng trị, răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tại phiên toà đại diện bị hại xin giảm nhẹ cho hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đại diện của bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại tiền chi phí mai táng là 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện bị hại, phù hợp quy định pháp luật nên căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp phát bị hại.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Đối với các công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và các vật, tài sản,
gồm:
- 01 (một) con dao, dạng dao thái lan dài 22,3cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,7cm có dấu vết vỡ nhựa, lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, mũi nhọn, trên dao có dấu vết cong vênh.
- 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 87cm, cán bằng tre dài 60,5cm dạng trụ tròn đường kính 3,5cm; lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, đầu bằng.
- 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 58,9cm, chuôi dao rỗng dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc dài 25cm, bản rộng nhất 5,2cm, mũi dao nhọn, cong.
- 01 (một) quần dài màu đen (quần tây) và 01 (một) áo sơmi dài tay caro màu xanh nâu trắng, cúc áo màu trắng.
- 01 đôi dép, dạng dép sỏ ngón, màu đen, kích thước (26 x 10,6)cm.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản và bảng kê tang vật kèm theo ngày 18/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước).
Những vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[12] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
[13] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy các công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và các vật, tài sản không còn giá trị sử dụng, gồm:
- 01 (một) con dao, dạng dao thái lan dài 22,3cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,7cm có dấu vết vỡ nhựa, lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, mũi nhọn, trên dao có dấu vết cong vênh.
- 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 87cm, cán bằng tre dài 60,5cm dạng trụ tròn đường kính 3,5cm; lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc, đầu bằng.
- 01 (một) con dao (dạng dao rựa) dài 58,9cm, chuôi dao rỗng dài 9,5cm; lưỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc dài 25cm, bản rộng nhất 5,2cm, mũi dao nhọn, cong.
- 01 (một) quần dài màu đen (quần tây) và 01 (một) áo sơmi dài tay caro màu xanh nâu trắng, cúc áo màu trắng.
- 01 đôi dép, dạng dép sỏ ngón, màu đen, kích thước (26 x 10,6)cm.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, bảng kê tang vật kèm theo ngày 18/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước)
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự;
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa đại diện bị hại Nguyễn Thị Tuyết N và bị cáo Nguyễn Văn H về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thể: bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại Nguyễn Thị Tuyết N chi phí mai táng là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 (hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thư |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về giết người
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H
