Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 11 - 12 - 2025

Sơn La.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Sơ

2. Ông Cầm Văn Tổ

Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

LƯU TRỌNG T2. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 19/6/1963 tại xã M, tỉnh Sơn La. Số căn cước công dân: 014, cấp ngày 10/4/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tiểu khu A, xã M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Hoa T (đã chết) và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1940; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 10/3/2001, Lưu Trọng T2 bị Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Lưu Trọng T2 đã được đương nhiên xoá án tích.

Bị cáo bị bắt từ ngày 26/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam M – Trại tạm giam Công an tỉnh S. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Trọng T2 hiện đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Trung tâm y tế K từ ngày 03/7/2023. Trong quá trình điều trị Tuệ vẫn có ham muốn sử dụng các chất ma tuý nên khoảng tháng 01/2025, T2 thuê xe ôm đi vào bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là bản H, xã M, tỉnh Sơn La) để tìm mua ma tuý sử dụng. Trên đường đi T2 gặp và hỏi mua với một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết Heroine để sử dụng nhưng người phụ nữ nói chỉ có rượu thuốc phiện, hỏi T2 có mua không. T2 đồng ý mua 01 chai rượu thuốc phiện với giá 50.000VNĐ rồi mang về cất giấu tại vị trí chân bàn uống nước ở phòng khách của gia đình nhằm mục đích sử dụng. Từ khi mua được chai rượu ngâm thuốc phiện thì T2 đã 02 lần sử dụng bằng hình thức uống trực tiếp, mỗi lần uống từ khoảng 150ml đến 170ml. Đến khoảng 19 giờ ngày 24/8/2025, T2 lấy chai rượu ngâm thuốc phiện ra uống trực tiếp hết số rượu còn lại; vỏ chai Tuệ vứt vào gầm bàn tại phòng khách sau đó bị em gái T2 dọn dẹp vứt bỏ. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/8/2025, T2 đến trung tâm y tế K để uống thuốc Methadone thì gặp tổ công tác công an xã M phối hợp với Trạm y tế khu vực M tiến hành rà soát xét nghiệm nước tiểu nhanh bằng que thử nước tiểu Drug Test; kết quả kiểm tra nước tiểu của T2 dương tính với chất ma tuý, loại MOP và M.

Ngày 26/8/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành thu mẫu nước tiểu của Lưu Trọng T2. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S có công văn đề nghị Phòng K1 Công an tỉnh S giám định mẫu nước tiểu của Lưu Trọng T2, ký hiệu từ D1 đến D5.

Tại bản kết luận giám định số 1052/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:

“Có chất ma tuý trong mẫu ký hiệu từ D1 đến D5 gửi giám định, loại Morphine và M.”

Ngày 16/10/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với diễn biến của vụ án, lời khai của bị cáo và các tài liệu khác.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSKV4 ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 đã truy tố bị cáo Lưu Trọng T2 về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lưu Trọng T2 phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Lưu Trọng T2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025.

Về vật chứng: Không có.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lưu Trọng T2 tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân khu vực 4, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Trọng T2 khai nhận bản thân đang trong thời hạn cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế (Methadone) theo quy định của Luật Phòng chống ma túy tại Trung tâm y tế K, tỉnh Sơn La từ ngày 03/7/2023 nhưng vẫn có ham muốn sử dụng các chất ma tuý. Khoảng tháng 01 năm 2025, bị cáo đã mua 01 chai rượu ngâm cây thuốc phiện với giá 50.000VNĐ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo đã sử dụng 02 lần vào 02 ngày khác nhau, đến ngày 24/8/2025 bị cáo sử dụng hết số rượu ngâm thuốc phiện còn lại nên đến ngày 26/8/2025 khi bị Công an xã M tiến hành thử nước tiểu bằng que thử đã cho kết quả dương tính với ma tuý. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản làm việc lập hồi 12 giờ 05 phút ngày 26/8/2025 của Công an xã M; phiếu kết quả xét nghiệm ma tuý ngày 26/8/2025 của trạm y tế xã M; kết luận giám định số 1052/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của Phòng K1 công an tỉnh S, kết luận mẫu nước tiểu của Lưu Trọng T2 dương tính với chất ma tuý. Do đó, hành vi của bị cáo Lưu Trọng T2 đã phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:

“1.Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma tuý hoặc điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma tuý;

..."

[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình sử dụng, hành vi của bị cáo là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai nhận từ khi mua được chai rượu ngâm cây thuốc phiện thì bị cáo đã 03 lần sử dụng vào các ngày khác nhau (02 lần bị cáo không nhớ ngày, lần thứ ba vào ngày 24/8/2025). Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 10/3/2001, Lưu Trọng T2 bị Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Lưu Trọng T2 đã được đương nhiên xoá án tích, tuy nhiên việc bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội về ma tuý chứng tỏ bị cáo chưa có sự tuân thủ pháp luật nghiêm túc.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm; bị cáo tuy đã 01 lần bị xét xử nhưng đã được đương nhiên xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo được tính là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự khai ra hành vi sử dụng ma tuý 02 lần trước đó nên cần áp dụng điểm i, s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Lưu Hoa T được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, mẹ đẻ là bà Ngô Thị T1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên Hội đồng xét xử coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt phần nào cho bị cáo.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Không có.

[6] Về vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lưu Trọng T2 khai mua chai rượu ngâm cây thuốc phiện của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản H, xã M, tỉnh Sơn La; việc mua bán không có ai biết, chứng kiến. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

[7] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lưu Trọng T2 là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

    Tuyên bố bị cáo Lưu Trọng T2 phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lưu Trọng T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025.

  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lưu Trọng T2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/12/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Phương Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Trọng T2 phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger