Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 10-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định

  • - Thẩm phán: Ông Trần Minh Tấn

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông Huỳnh Hoàng Oai

    • Bà Liêu Bích Nga

    • Ông Trần Thanh Hùng

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoàng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và 10 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị Thanh T, sinh ngày 01/4/1977 tại Bạc Liêu; nơi cư trú: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc H, sinh năm 1947 và bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1951 (đã chết); chồng Nguyễn Quốc M, sinh năm 1973 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị khởi tố bị can ngày 10/7/2024, bị bắt tạm giam từ ngày 17/7/2024 cho đến nay. (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vưu Tấn T1 là Luật sư của Văn phòng L7 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt).

- Bị hại:

  1. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1967; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1987; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).
  2. Bà Huỳnh Thị M1, sinh năm 1962; địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).
  3. Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1973; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1940; địa chỉ: Khóm E, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  5. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  6. Bà Trần Thị Hồng T4, sinh năm 1974; địa chỉ Khóm E, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  7. Bà Trần Thị Phương T5, sinh năm 1976; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).
  8. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1963; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  9. Bà Nguyễn Thị Tú M2, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  10. Bà Phạm Thị Tú U, sinh năm 1975; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  11. Ông Mã Quốc S, sinh năm 1979; địa chỉ: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  12. Ông Vũ Văn A1, sinh năm 1964; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).
  13. Bà Lê Thị Thanh V, sinh năm 1972; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).
  14. Bà Trương Thị T6, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt).
  15. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1978; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  16. Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1981; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  17. Bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1966; địa chỉ: Khóm A, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  18. Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1976; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  19. Bà Thái Thị K, sinh năm 1955; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).
  20. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1982; địa chỉ: Khóm A, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  21. Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1973; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  22. Bà Vũ Thúy L2, sinh năm 1963; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  23. Bà Huỳnh Thị L3, sinh năm 1951; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  24. Ông Trần Văn L4, sinh năm 1967; địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  25. Ông Trần Hồng K1, sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  26. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  27. Bà Nguyễn Thanh T7, sinh năm 1973; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  28. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  29. Bà Nguyễn Yến N2, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  30. Bà Võ Bé T8, sinh năm 1984; địa chỉ: Khóm E, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  31. Bà Hoàng Thị D1, sinh năm 1975; địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  32. Bà Ngô Mộng X1, sinh năm 1961; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  33. Bà Trần Thị T9, sinh năm 1955; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Vũ Văn T10, sinh năm 1977; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  2. Bà Châu Ngọc M3, sinh năm 1965; địa chỉ: Khóm E, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  3. Bà Huỳnh Thị T11, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  4. Bà Phạm Hồng N3, sinh năm 1989; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  5. Bà Lưu Mỹ Đ1, sinh năm 1986; địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  6. Bà Dương Tiêu Mỹ C, sinh năm 1982; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn Quang V1, sinh năm 1988; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  8. Bà Trương Hồng C1, sinh năm 1971; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  9. Bà Phan Thị Kim N4, sinh năm 1984; địa chỉ: Khóm C, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt).
  10. Bà Lâm Quế L5, sinh năm 1983; địa chỉ: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  11. Bà Trần Thị H4, sinh năm 1976; địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  12. Ông Huỳnh Quốc V2, sinh năm 1983; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  13. Bà Nguyễn Tú A2, sinh năm 1965; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
  14. Ông Nguyễn Quốc M (chồng bị cáo), sinh năm 1973; địa chỉ: Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Thị Thanh T bắt đầu làm chủ hụi từ năm 2000 tại nhà thuộc Khóm E, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để hưởng hoa hồng và có nhiều dây hụi đã mãn, nên tạo được lòng tin đối với người chơi. Trong thời gian làm chủ hụi, T là người mời gọi các hụi viên tham gia, tổ chức khui hụi và trực tiếp đi thu, giao tiền hụi cho các hụi viên.

T mở các dây hụi gồm: hụi tháng từ 3.000.000đ/01phần đến 5.000.000đ/01 phần. Đến năm 2018, T đã sử dụng tiền của các hụi viên đóng hụi để lấp hụi và tiêu xài cá nhân dẫn đến mất cân đối. Từ đó, T nảy sinh ý thức chiếm đoạt tiền của các hụi viên, bằng cách lập ra nhiều dây hụi mới, mạo danh hụi viên hốt hụi và bán hụi khống cho hụi viên.

Với phương thức, thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ ngày 25/4/2018 đến ngày 13/12/2020, T đã tổ chức 05 dây hụi và thực hiện hành vi mạo danh hụi viên hốt hụi và bán hụi khống, chiếm đoạt tổng số tiền là 1.726.014.000đ, đến ngày 16/4/2021, T tuyên bố vỡ hụi, cụ thể như sau:

- Về hành vi mạo danh hụi viên hốt hụi:

(1) Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 25/4/2018 (nhằm ngày 10/03/2018 âm lịch), tổng số 37 phần: có 30 hụi viên tham gia 36 phần và T tham gia 01 phần. Dây hụi đã mở được 36 kỳ, T hốt 01 phần của T tham gia và mạo danh hụi viên hốt 04 phần gồm: Huỳnh Thị M1, Nguyễn Thị L, Phạm Thị T3 và Trần Thị T2 mỗi người 01 phần. Đồng thời trong dây hụi này, T mạo danh bà Trần Thị Tuyết H5 03 phần hụi của bà T2 đã mua hụi của các hụi viên Trần Thị H4, Lâm Quế L5 và Anh B mỗi người 01 phần.

Hụi viên đã hốt 21 phần: Nguyễn Thùy D 01 phần, nợ 3.000.000đ; Vũ Văn T10 02 phần, nợ 6.000.000đ; Nguyễn Văn Đ 01 phần, nợ 3.000.000đ; Trương Thị T6 01 phần, nợ 3.000.000đ; Lê Thị Thanh V 02 phần, nợ 6.000.000đ; Châu Ngọc M3 01 phần, nợ 3.000.000đ; Huỳnh Thị L3 02 phần, nợ 6.000.000đ; Nguyễn Thị N1 01 phần, nợ 3.000.000đ; Nguyễn Thanh T7 01 phần, nợ 3.000.000đ; Vũ Thị N 01 phần, nợ 3.000.000đ; Huỳnh Thị T11 01 phần, nợ 3.000.000đ; Nguyễn Yến N2 01 phần, nợ 3.000.000đ; Trần Thị Phương T5 01 phần, nợ 3.000.000đ; Trần Hồng K1 01 phần, nợ 3.000.000đ; Trần Văn L4 01 phần, nợ 3.000.000đ; Hoàng Thị D1 01 phần, nợ 3.000.000đ; Lê Thị L1 01 phần, nợ 3.000.000đ và Phạm Hồng N3 01 phần, nợ 42.000.000đ. Riêng hụi viên Lưu Mỹ Đ1, Dương Tiêu Mỹ C mỗi người 01 phần, nhưng đã đóng đủ kỳ.

Hụi viên chưa hốt 08 phần: Trần Thị T2 05 phần, đóng 370.000.000đ (trong đó: 02 phần bà T2 tham gia (148.000.000đ) và 03 phần hụi mua của Trần Thị H4 (74.000.000đ), Lâm Quế L5 (74.000.000đ), Anh Ba (74.000.000đ); Huỳnh Thị M1 01 phần, đóng 74.000.000đ; Phạm Thị T3 01 phần 74.000.000đ và Nguyễn Thị L 01 phần, đóng 74.000.000đ.

Riêng các hụi viên Đinh Thị Lan P1 (03 phần), Đinh Thị Phương N5 (01 phần), Đinh Tiên H6 (01 phần) và Anh B (01 phần) vắng mặt địa phương chưa làm việc được.

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 592.000.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 102.000.000đ, T còn chiếm đoạt số tiền là 490.000.000đ.

(2) Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 22/7/2019 (nhằm ngày 20/06/2019 âm lịch), tổng số 33 phần: có 27 hụi viên tham gia 30 phần và T tham gia 03 phần (trong đó: 01 phần T tham gia và 02 phần của hụi viên Vũ Thúy L2 và Nguyễn Yến N2 giao lại). Dây hụi đã mở được 21 kỳ, T hốt 03 phần của T tham gia và mạo danh hụi viên hốt 04 phần bao gồm: Vũ Thị N 01 phần và 03 phần hụi của bà Trần Thị Tuyết M4 của hụi viên Đinh Tiên H6 (H6), Vũ Thúy L2 (Cô V2), Nguyễn Tú A2 (C).

Hụi viên đã hốt 11 phần: Vũ Thị N 01 phần, nợ 36.000.000đ; Huỳnh Thị T11 01 phần, nợ 36.000.000đ; Nguyễn Thị P 01 phần, nợ 36.000.000đ; Võ Bé T8 01 phần, nợ 36.000.000đ; Nguyễn Thị T12 My 01 phần, nợ 36.000.000đ; Trương Thị T6 01 phần, nợ 36.000.000đ; Vũ Văn T10 01 phần, nợ 36.000.000đ; Nguyễn Quang V1 01 phần, nợ 36.000.000đ; Trương Hồng C1 01 phần, nợ 36.000.000đ và Phan Thị Kim N4 01 phần, nợ 36.000.000đ. Riêng hụi viên Dương Tiêu Mỹ C 01 phần đã đóng đủ kỳ.

Hụi viên chưa hốt 16 phần: Trần Thị T2 05 phần, đóng 218.450.000đ (trong đó: 02 phần bà T2 tham gia (87.380.000đ) và 03 phần hụi mua của hụi viên Đinh Tiên H6 (43.690.000₫), Vũ Thúy L2 (43.690.000₫), Nguyễn Tú A2 (43.690.000₫); Vũ Thị N 01 phần, đóng 43.690.000đ; Trần Thị Hồng T4 01 phần, đóng 43.690.000đ; Trần Thị Phương T5 01 phần, đóng 43.690.000đ; Nguyễn Thị N1 02 phần, đóng 87.380.000đ; Nguyễn Thị T12 My 01 phần, đóng 43.690.000đ; Phạm Thị Tú U 01 phần, đóng 43.690.000đ; Mã Quốc S 01 phần, đóng 43.690.000đ; Vũ Văn A1 02 phần, đóng 87.380.000₫ và Lê Thị Thanh V 01 phần, đóng 43.690.000₫.

Riêng các hụi viên Đinh Thị Lan P1 (01 phần), Đinh Thị Phương N5 (01 phần), Anh Ba (01 phần) hiện vắng mặt địa phương chưa làm việc được.

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 699.040.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 360.000.000đ, T còn chiếm đoạt số tiền là 339.040.000đ.

(3) Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 10/03/2019 (nhằm ngày 05/02/2019 âm lịch), tổng số 33 phần: có 20 hụi viên tham gia 30 phần và T tham gia 03 phần (trong đó: 02 phần T tham gia và 01 phần của hụi viên Dương Tiêu Mỹ C giao lại). Dây hụi đã mở được 25 kỳ, T hốt 02 phần của T tham gia và mạo danh hụi viên Lê Thị L1 hốt 01 phần.

Trong dây hụi này có 05 hụi viên nhờ Lê Thị Thanh T bán 06 phần hụi gồm: Đinh Thị Lan P1 (P1) 02 phần; Trần Thị H4 (Chị Đ2) 01 phần; Nguyễn Tú A2 (Chị Tú A2) 01 phần; Nguyễn Thị X (Chị L6) 01 phần và Đinh Thị Phương N5 (Nga) 01 phần. Bị can T đã bán hụi cho Trần Thị T2 04 phần; Trần Thị Phương T5 01 phần (của Nguyễn Thị X) và Ngô Mộng X1 01 phần (của Đinh Thị Phương N5) và bà X1 đã hốt hụi. Sau khi bán hụi T đã có hành vi mạo danh Trần Thị T2 để hốt 04 phần hụi mà bà T2 đã mua, còn lại 01 phần hụi bán cho bà Trần Thị Phương T5 chưa hốt.

Hụi viên đã hốt 14 phần: Vũ Văn T10 03 phần, nợ 120.000.000đ; Trương Thị T6 01 phần, nợ 40.000.000đ; Vũ Thúy L2 02 phần, nợ 80.000.000đ; Lâm Quế Ly 02 phần, nợ 90.000.000đ; Trần Thị H4 01 phần, nợ 40.000.000đ; Huỳnh Thị T11 01 phần, nợ 40.000.000đ; Hoàng Thị D1 01 phần, nợ 35.000.000đ; Phan Thị Kim N4 02 phần, nợ 80.000.000đ. Riêng hụi viên Phạm Thị T3 01 phần nhưng đã đóng đủ kỳ.

Hụi viên chưa hốt 13 phần: Trương Thị T6 01 phần, đóng 75.000.000đ; Trần Thị T2 07 phần, đóng 525.000.000đ (trong đó: Tuyết tham gia 03 phần hụi (225.000.000đ) và mua 04 phần hụi của hụi viên: Đinh Thị Lan P1 (P1) 02 phần, Trần Thị H4 (Chị đậu) 01 phần; Nguyễn Tú A2 (Chị Tú A2) 01 phần); Lê Thị L1 01 phần, đóng 75.000.000đ; Nguyễn Thị N1 02 phần, đóng 150.000.000đ; Trần Thị Phương T5 01 phần hụi mua (của Nguyễn Thị X), đóng 75.000.000đ; Nguyễn Ngọc H1 01 phần, đóng 75.000.000đ. (Số tiền đóng hụi được tính theo mức trung bình 3.000.000đ/kỳ do dây hụi này không có hụi viên ghi chép theo dõi số tiền đóng hụi).

Riêng các hụi viên Đinh Thị Lan P1, Đinh Thị Phương N5, Đinh Tiên H6 vắng mặt địa phương chưa làm việc được.

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 975.000.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 525.000.000đ, T còn chiếm đoạt số tiền là 450.000.000đ.

(4) Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 11/11/2019 (nhằm ngày 15/10/2019 âm lịch), tổng số 30 phần: có 21 hụi viên tham gia 26 phần và T tham gia 04 phần. Dây hụi đã mở được 17 kỳ, T hốt 04 phần của T tham gia và mạo danh hụi viên Vũ Thúy L2 hốt 02 phần.

Trong dây hụi này có 02 hụi viên nhờ Lê Thị Thanh T bán 02 phần hụi là Trần Thị H4 (Chị Đ2) và Ngô Mộng X1 mỗi người 01 phần. Bị can T đã bán hụi 02 phần hụi này cho Trần Thị T2 và sau đó T đã mạo danh Trần Thị Tuyết hốt 02 phần hụi này.

Hụi viên đã hốt 08 phần: Nguyễn Thùy D 01 phần, nợ 42.000.000đ; Trần Thị H4 01 phần, nợ 39.000.000đ; Trần Thị Phương T5 01 phần, nợ 39.000.000đ; Huỳnh Quốc V2 01 phần, nợ 39.000.000đ; Lê Thị L1 01 phần, nợ 39.000.000đ; Vũ Văn T10 02 phần, nợ 72.000.000đ; Vũ Thị N 01 phần, nợ 39.000.000đ. Riêng hụi viên Dương Tiêu Mỹ C 01 phần nhưng đã thỏa thuận đóng đủ kỳ.

Hụi viên chưa hốt 17 phần: Nguyễn Thùy D 01 phần, đóng 34.350.000đ; Trần Thị T2 04 phần, đóng 137.400.000đ (trong đó: Tuyết tham gia 02 phần hụi (68.700.000đ) và mua 02 phần hụi của hụi viên Trần Thị H4 01 phần (34.350.000đ) và Ngô Mộng X1 01 phần (34.350.000đ); Huỳnh Thị M1 01 phần, đóng 34.350.000đ; Huỳnh Thị H2 01 phần, đóng 34.350.000đ; Nguyễn Thị N1 01 phần, đóng 34.350.000đ; Thái Thị K 01 phần, đóng 34.350.000đ; Nguyễn Thị T12 My 01 phần, đóng 34.350.000đ; Trần Thị Hồng T4 01 phần, đóng 34.350.000đ; Mã Quốc S 01 phần, đóng 34.350.000đ; Nguyễn Thị P 01 phần, đóng 34.350.000đ; Vũ Thị H3 01 phần, đóng 34.350.000đ; Vũ Thúy L2 02 phần, đóng 68.700.000đ; Huỳnh Thị L3 01 phần, đóng 34.350.000đ. (Số tiền đóng hụi được tính theo sự ghi chép theo dõi của hụi viên Trần Thị Hồng T4, do các hụi viên khác không có ghi chép theo dõi số tiền đóng hụi).

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 583.950.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 309.000.000đ, T còn chiếm đoạt số tiền là 274.950.000đ.

(5) Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 13/12/2020 (nhằm ngày 30/10/2020 âm lịch), tổng số 31 phần: có 19 hụi viên tham gia 26 phần và T tham gia 02 phần và lấy tên khống 03 phần (Chú G 02 phần và Chị T6 01 phần). Dây hụi đã mở được 04 kỳ, T hốt 02 phần của T tham gia.

Hụi viên đã hốt 02 phần: Huỳnh Thị T11 01 phần, nợ 78.000.000₫ và Nguyễn Thanh T7 01 phần, nợ 81.000.000₫.

Hụi viên chưa hốt 24 phần: Trần Văn L4 02 phần, đóng 16.650.000đ; Huỳnh Thị M1 01 phần, đóng 10.406.000đ; Trần Hồng K1 01 phần, đóng 8.325.000đ; Huỳnh Thị H2 01 phần, đóng 10.406.000đ; Vũ Văn A1 01 phần, đóng 8.325.000đ; Nguyễn Văn Đ 01 phần 8.325.000đ; Trần Thị T2 02 phần, đóng 20.812.000đ; Nguyễn Thanh T7 01 phần, đóng 8.325.000đ; Nguyễn Thùy D 01 phần, đóng 8.325.000đ; Nguyễn Thị X 01 phần, đóng 8.325.000đ; Nguyễn Yến N2 04 phần, đóng 33.300.000đ; Võ Bé T8 02 phần, đóng 16.650.000đ; Lê Thị L1 01 phần 8.325.000đ; Trần Thị T9 02 phần, đóng 16.650.000đ; Hoàng Thị D1 01 phần, đóng 8.325.000đ; Phạm Thị T3 01 phần, đóng 8.325.000đ; Ngô Mộng X1 01 phần 8.325.000đ. (Số tiền đóng hụi được tính theo sự ghi chép theo dõi của thành viên Trần Thị T9 do trong dây hụi này không có thành viên nào ghi chép theo dõi số tiền đóng hụi).

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 208.124.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 159.000.000đ, T còn chiếm đoạt số tiền là 49.124.000đ.

- Hành vi bán hụi khống:

Dựa trên các dây hụi đã mở, Lê Thị Thanh T liên hệ với các hụi viên Trần Thị T9 và Trần Thị T2, đưa ra thông tin gian dối có hụi viên cần bán hụi nhưng thực tế không có ai bán hụi, từ đó tạo lòng tin của hụi viên đồng ý mua hụi. Với thủ đoạn nêu trên, T đã bán hụi khống cho Trần Thị T9 và Trần Thị T2 chiếm đoạt với tổng số tiền là 122.900.000đ, trong đó: Trần Thị T9 01 phần hụi khống, chiếm đoạt số tiền 60.500.000đ và bán cho Trần Thị T2 01 phần hụi khống, chiếm đoạt số tiền 62.400.000₫.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-P1 ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Lê Thị Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố rút lại một phần Quyết định truy tố đối với số tiền chiếm đoạt 49.124.000đ tại dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 13/12/2020 (nhằm ngày 30/10/2020 âm lịch), đối với các nội dung khác Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

+ Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T từ 12 năm đến 13 năm tù.

Ngoài ra, đại viện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự và án phí theo quy định pháp luật.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, tuy nhiên sau khi nghe đại diện theo ủy quyền của bị hại Trần Thị T2 yêu cầu mức bồi thường, bị cáo cho rằng bị cáo không có hành vi mạo danh bà Trần Thị Tuyết H5 hụi mà do bà T2 nhờ bị cáo hốt hụi thay cho bà T2 và bị cáo đã đưa lại tiền cho bà T2, hiện nay chỉ còn nợ bà T2 hơn 400.000.000 đồng nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà T2.

Đối với các bị hại còn lại, bị cáo thống nhất về số tiền bị cáo chiếm đoạt của họ như Cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của họ.

Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Các bị hại Trần Thị Phương T5, Trương Thị T6, Thái Thị K và người đại diện theo ủy quyền của bị hại Trần Thị T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền như Cáo trạng truy tố và thống nhất số tiền bị cáo đã bồi thường trong quá trình điều tra, đồng thời về mức hình phạt đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

- Bị hại Vũ Văn A1 xác định bị cáo đã bồi thường số tiền 44.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại theo đúng Cáo trạng truy tố, đối trừ đi số tiền bị cáo đã trả, về mức hình phạt đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

- Bị hại Huỳnh Thị M1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền như Cáo trạng truy tố, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại Lê Thị Thanh V không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ông Nguyễn Quốc M5 đồng ý cùng với bị cáo bồi thường cho bị hại theo yêu cầu của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận do quá trình làm chủ hụi, T đã sử dụng tiền của các hụi viên đóng hụi để lấp hụi dẫn đến mất cân đối. Từ đó, T nảy sinh ý thức chiếm đoạt tiền của các hụi viên, bằng cách lập ra nhiều dây hụi mới, mạo danh hụi viên hốt hụi và bán hụi khống cho hụi viên. Riêng đối với hụi viên Trần Thị T2, bị cáo cho rằng không mạo danh bà T2 hốt hụi mà do bà T2 nhờ bị cáo hốt hụi thay. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bà T2 có nhờ bị cáo hốt hụi thay. Tại biên bản hỏi cung vào ngày 30/10/2024 (bút lục 282), bị cáo xác định: “thực tế, bà Trần Thị T2 có mua 13 phần hụi và chưa hốt phần hụi nào đã mua. Bị can lợi dụng việc bà T2 không có tham gia đi khui hụi nên bị can đã đưa ra thông tin gian dối với các hụi viên khác là bà T2 nhờ bị can bỏ khui để hốt hụi và bị can đã mạo danh bà T2 hốt hụi 13 phần hụi mà bà T2 đã mua nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền hụi viên đóng”; tại biên bản hỏi cung vào ngày 08/11/2024 (bút lục 287), bị cáo tiếp tục thừa nhận: “Đối với các phần hụi bà T2 đã mua mà bị can đã mạo danh bà Trần Thị T2 để hốt hụi thì để tránh việc bà T2 phát hiện thì sau khi mạo danh bà T2 hốt hụi, bị can vẫn giao tiền lời cho bà T2 đầy đủ cho đến khi tuyên bố vỡ hụi”, các lần hỏi cung này đều có người bào chữa cho bị cáo tham dự. Lời khai tại các lần hỏi cung trên của bị cáo phù hợp với lời khai của bà Trần Thị T2, bà T2 xác định đối với các dây hụi bà T2 mua lại từ bị cáo T thì bà T2 chưa hốt, đồng thời phù hợp với tờ biên nhận bà T2 giao nộp thể hiện sau khi vỡ hụi bị cáo làm biên nhận xác định còn nợ bà T2 tiền hụi là 1.857.350.000 đồng, từ đó có cơ sở xác định bị cáo đã mạo danh bà T2 hốt các phần hụi mà bà T2 đã mua lại từ các hụi viên khác đúng như Cáo trạng đã truy tố.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong thời gian từ ngày 25/4/2018 đến ngày 16/4/2021 (thời điểm vỡ hụi), bị cáo T đã tổ chức 05 dây hụi loại hụi tháng mỗi dây thấp nhất 3.000.000₫ và cao nhất là 5.000.000đ, và thực hiện hành vi mạo danh hụi viên hốt hụi và bán hụi khống, chiếm đoạt tiền của các hụi viên, cụ thể như sau:

* Về hành vi mạo danh hụi viên hốt hụi:

- Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 25/4/2018 (nhằm ngày 10/03/2018 âm lịch), tổng số 37 phần: có 30 hụi viên tham gia 36 phần và T tham gia 01 phần. Dây hụi đã mở được 36 kỳ, bị cáo mạo danh hụi viên hốt 07 phần hụi, gồm: Huỳnh Thị M1, Nguyễn Thị L, Phạm Thị T3 và Trần Thị T2 mỗi người 01 phần, bà Trần Thị Tuyết H5 03 phần hụi của bà T2 đã mua hụi của các hụi viên Trần Thị H4, Lâm Quế L5 và Anh B.

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 592.000.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 102.000.000đ, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 490.000.000₫.

- Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 22/7/2019 (nhằm ngày 20/06/2019 âm lịch), tổng số 33 phần: có 27 hụi viên tham gia 30 phần và T tham gia 03 phần. Dây hụi đã mở được 21 kỳ, bị cáo mạo danh hụi viên hốt 04 phần bao gồm: Vũ Thị N 01 phần và 03 phần hụi của bà Trần Thị Tuyết M4 của hụi viên Đinh Tiên H6 (H6), Vũ Thúy L2 (Cô V2), Nguyễn Tú A2 (C).

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 699.040.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 360.000.000đ, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 339.040.000đ.

- Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 10/03/2019 (nhằm ngày 05/02/2019 âm lịch), tổng số 33 phần: có 20 hụi viên tham gia 30 phần và bị cáo tham gia 03 phần. Dây hụi đã mở được 25 kỳ, bị cáo mạo danh hụi viên Lê Thị L1 hốt 01 phần.

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 975.000.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 525.000.000đ, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 450.000.000đ.

- Dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 11/11/2019 (nhằm ngày 15/10/2019 âm lịch), tổng số 30 phần: có 21 hụi viên tham gia 26 phần và bị cáo tham gia 04 phần. Dây hụi đã mở được 17 kỳ, bị cáo mạo danh hụi viên hốt 04 phần gồm: bà Vũ Thúy L2 02 phần, bà Trần Thị Tuyết H5 02 phần hụi bà T2 mua của Trần Thị H4 (Chị Đ2) và Ngô Mộng X1.

Tổng số tiền hụi viên đóng hụi sống 583.950.000đ, sau khi trừ số tiền hụi viên nợ hụi chết 309.000.000đ, bị cáo chiếm đoạt số tiền là 274.950.000đ.

* Về hành vi bán hụi khống:

Dựa trên các dây hụi đã mở, bị cáo Lê Thị Thanh T liên hệ với các hụi viên Trần Thị T9 và Trần Thị T2, đưa ra thông tin gian dối có hụi viên cần bán hụi nhưng thực tế không có ai bán hụi, từ đó tạo lòng tin của hụi viên đồng ý mua hụi. Với thủ đoạn nêu trên, T đã bán cho Trần Thị T9 01 phần hụi khống, chiếm đoạt số tiền 60.500.000đ và Trần Thị T2 01 phần hụi khống, chiếm đoạt số tiền 62.400.000₫.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 1.676.890.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[2.2] Đối với dây hụi tháng 3.000.000đ/01 phần, mở ngày 13/12/2020 (nhằm ngày 30/10/2020 âm lịch), tổng số 31 phần. Dây hụi đã mở được 04 kỳ, T hốt 02 phần của T tham gia; Huỳnh Thị T11 và Nguyễn Thanh T7 mỗi người hốt 01 phần. Như vậy, không có căn cứ xác định bị cáo mạo danh hụi viên khác để hốt hụi nhằm chiếm đoạt tiền của hụi viên trong dây hụi này. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu rút lại một phần quyết định truy tố bị cáo với số tiền chiếm đoạt 49.124.000 đồng tại dây hụi trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội trong thời gian dài và mỗi lần thực hiện hành vi đều thỏa mãn cấu thành tội phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; tại phiên toà có một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tại phiên tòa bị cáo chưa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đối với bà Trần Thị T2 nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: đối với các giấy tờ, tài liệu do bị cáo và các hụi viên giao nộp trong quá trình điều tra có liên quan đến các dây hụi nên đã được lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà bị cáo trình bày việc làm chủ các dây hụi và giao dịch với các hụi viên là do một mình bị cáo thực hiện. Tuy nhiên, xét thấy giữa bị cáo và ông Nguyễn Quốc M là quan hệ chồng hợp pháp; số tiền của bị cáo chiếm đoạt của bị hại cũng nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì ông Nguyễn Quốc M phải có nghĩa vụ liên đới trách nhiệm bồi thường cho bị hại, đồng thời tại phiên tòa ông M cũng đồng ý cùng có trách nhiệm bồi thường cho bị hại nên buộc bị cáo và ông Nguyễn Quốc M cùng có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể như sau:

Trần Thị T2 số tiền 1.305.250.000đ; Huỳnh Thị M1 số tiền 88.850.000đ; Phạm Thị T3 số tiền 12.000.000đ; Nguyễn Thị L số tiền 53.500.000đ; Trần Thị Hồng T4 số tiền 57.540.000đ; Trần Thị Phương T5 số tiền 58.690.000đ; Nguyễn Thị Tú M2 số tiền 24.040.000đ; Phạm Thị Tú U số tiền 21.690.000đ; Mã Quốc S số tiền 42.040.000đ; Vũ Văn A1 số tiền 43.380.000₫ (do ông A1 xác định bị cáo đã bồi thường số tiền 44.000.000đ); Lê Thị L1 số tiền 18.325.000đ; Nguyễn Ngọc H1 số tiền 27.000.000đ; Huỳnh Thị Hằng số tiền 34.350.000đ; Thái Thị K số tiền 14.850.000đ; Huỳnh Thị L3 số tiền 20.000.000₫ (bà L3 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000đ); Trần Thị T9 số tiền 48.500.000đ.

Đối với số tiền 30.000.000 đồng bị cáo nộp khắc phục sẽ được chuyển xử lý cho các bị hại trong giai đoạn thi hành án.

Riêng các hụi viên: Vũ Thị N, Nguyễn Thùy D, Nguyễn Thị P, Vũ Thị H3, Vũ Thúy L2, Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Thị X, Võ Bé T8, Hoàng Thị D1, Lê Thị Thanh V, Nguyễn Thị N1 đã tự nguyện thỏa thuận đối trừ và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét.

[8] Đối với dây hụi loại 3.000.000₫ mở ngày 13/12/2020 (nhằm ngày 30/10/2020 âm lịch); dây hụi loại 100.000đ/01 phần, mở ngày 01/02/2021 âm lịch và dây hụi loại 100.000đ/01 phần, mở ngày 02/02/2021 âm lịch do không chứng minh bị cáo có hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của các hụi viên nên không để cập xử lý trong vụ án này là có căn cứ. Nếu có phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án dân sự khác.

[9] Đối với số tiền hụi viên nợ hụi chết đối với bị cáo T ở các dây hụi, xét thấy đây là quan hệ dân sự, nếu có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án dân sự khác.

[10] Đối với các hụi viên: Đinh Thị Lan Phương, Đinh Thị Phương N5, Đinh Tiên H6 tham gia ở các dây hụi nêu trên. Xét thấy, ngoài lời khai của bị cáo T không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh và hiện nay những người này đã đi khỏi địa phương, chưa làm việc được, nên không đặt ra xem xét.

[11] Về án phí: bị cáo, ông Nguyễn Quốc M phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bạc Liêu là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[12] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17/7/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều Điều 471, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Lê Thị Thanh T và ông Nguyễn Quốc M cùng có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể như sau:

    Trần Thị T2 số tiền 1.305.250.000 đồng; Huỳnh Thị M1 số tiền 88.850.000 đồng; Phạm Thị T3 số tiền 12.000.000 đồng; Nguyễn Thị L số tiền 53.500.000 đồng; Trần Thị Hồng T4 số tiền 57.540.000 đồng; Trần Thị Phương T5 số tiền 58.690.000 đồng; Nguyễn Thị Tú M2 số tiền 24.040.000 đồng; Phạm Thị Tú U số tiền 21.690.000 đồng; Mã Quốc S số tiền 42.040.000 đồng; Vũ Văn A1 số tiền 43.380.000 đồng; Lê Thị L1 số tiền 18.325.000 đồng; Nguyễn Ngọc H1 số tiền 27.000.000 đồng; Huỳnh Thị Hằng số tiền 34.350.000 đồng; Thái Thị K số tiền 14.850.000 đồng; Huỳnh Thị L3 số tiền 20.000.000 đồng; Trần Thị T9 số tiền 48.500.000 đồng.

    Đối với số tiền 30.000.000 đồng bị cáo nộp khắc phục sẽ được chuyển xử lý cho các bị hại trong giai đoạn thi hành án. Số tiền nêu trên đang được lưu giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số C4-08/KB ngày 04/11/2024.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c, d khoản 1 Điều 23; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
    • - Buộc bị cáo Lê Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

    • - Buộc bị cáo Lê Thị Thanh T và ông Nguyễn Quốc M (chồng bị cáo) phải chịu 65.288.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Văn Đ3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger