|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-PT.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Hà Giang |
| Các thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Thùy Hương |
| Ông Phạm Tuấn Anh. |
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - kiểm sát viên.
Ngày 27/3 /2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLPT-HS ngày 08/10/2024; Do có kháng cáo của bị cáo: Nguyễn Thị Mỹ N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ N; sinh ngày: 08/12/1989; Tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Chủ tịch HĐQT Công ty CP X và TM P, kiêm Giám đốc Trung tâm Đ1; Văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1962; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1971; Chồng: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến ngày 18/11/2023. Hiện bị cáo thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
* Các bị cáo không kháng cáo.
- Nguyễn Văn H, sinh ngày: 04/02/1977 tại H, Nghệ An; Nơi cư trú: SN A, tổ dân phố G, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt không có lý do).
- Nguyễn Xuân T1, sinh ngày 10/9/1982 tại B, Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: TDP M, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Vũ Anh T2, sinh ngày: 15/01/1980 tại Đ, Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. (Vắng mặt không có lý do).
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt không có lý do).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt không có lý do).
* Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Hồng T3 Điều tra viên thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T nhận được tin báo gửi qua đường bưu điện với nội dung tố giác thông tin về việc: Trong năm 2021, 2022 tại Trung tâm Đ1 (sau đây gọi tắt là Trung tâm Đ1) thuộc Công ty cổ phần T12 (gọi tắt là Công ty T12), địa chỉ: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ diễn ra việc nhận tiền trong quá trình đăng kiểm xe cơ giới. Các phương tiện không đủ điều kiện hoạt động, hàn thêm thùng xe...khi đăng kiểm tại trung tâm phải nộp thêm từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng thì mới đăng kiểm được. Nếu không nộp tiền thì sẽ không đăng kiểm được, có những ô tô đủ điều kiện hoạt động nhưng khi đăng kiểm nhân viên vẫn yêu cầu nộp thêm tiền nếu không sẽ gây khó khăn, phiền hà.
Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiếp nhận, giải quyết tin báo nêu trên để kiểm tra, xác minh theo thẩm quyền. Kết quả kiểm tra, xác minh tin báo xác định trong năm 2021, 2022 Nguyễn Thị Mỹ N là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động của Trung tâm đăng kiểm 19-05D. Trong quá trình điều hành Nguyễn Thị Mỹ N đã thực hiện hành vi Nhận hối lộ của nhiều chủ phương tiện đến đăng kiểm, sau đó chỉ đạo Phó giám đốc, phụ trách dây chuyền kiểm định bỏ qua lỗi của phương tiện để cấp giấy chứng nhận kiểm định không đúng quy định.
Ngày 20/3/2023 tại Trung tâm Đ1 thuộc Công ty CP T12, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành thu thập các tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến việc kiểm định các phương tiện xe cơ giới từ năm 2020 đến năm 2022 tại Trung tâm Đ1. Quá trình làm việc Trung tâm Đ1 đã cung cấp: Hồ sơ kiểm định các phương tiện năm 2020 đến năm 2022; Dữ liệu chụp ảnh xe cơ giới đến kiểm định và video ghi hình quá trình kiểm tra trên dây chuyền khi kiểm định tại Trung tâm Đ1 từ năm 2020 đến năm 2022: Tại trung tâm lưu dữ liệu hình ảnh các phương tiện (mỗi phương tiện 02 hình ảnh: ảnh chụp phía trước và phía sau phương tiện) từ tháng 03/2021 đến nay. Dữ liệu hình ảnh được sao lưu vào 01 USB và cho vào bì niêm phong; Các sổ sách theo dõi liên quan đến công tác kiểm định từ năm 2020 đến năm 2022 gồm: sổ phân công nhiệm vụ kiểm định, sổ theo dõi cấp phát giấy chứng nhận tem kiểm định, sổ theo dõi sửa phiếu lập hồ sơ phương tện, sổ quản lý phiếu lập hồ sơ phương tiện; Các quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm Phó giám đốc, đăng kiểm viên từ năm 2020 đến nay và các Đăng kiểm viên, Nhân viên nghiệp vụ hiện đang làm việc tại Trung tâm.
Căn cứ vào các tài liệu, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu thập: Ngày 09/5/2023, ngày 24/5/2023, ngày 24/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu số 84, 95, 204 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P“giám định dữ liệu của 41 hình ảnh phương tiện đã đăng kiểm tại Trung tâm Đ1 trong năm 2022 được sao lưu từ máy tính tại trung tâm Đ1 có bị chỉnh sửa, cắt ghép hay không. Chỉnh sửa, cắt ghép ở chi tiết nào”. Tại bản Kết luận giám định số 636/KL-KTHS ngày 18/5/2023, kết luận giám định số 709/KL-KTHS ngày 31/5/2023, kết luận giám định số 1508/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh P “xác định trong 41 dữ liệu hình ảnh gửi giám định thì có 38 hình ảnh phương tiện là bị chỉnh sửa, cắt ghép ở một số chi tiết trên thùng hàng, bạt che thùng hàng, các phương tiện bị chỉnh sửa, cắt ghép có biển số như sau: 19C-13618, 34L-2972, 29H-58567, 19C-15516, 26C-06601, 19C-04336, 19C-04444, 99C-02838, 90C-01459, 19C-14032, 19C-05821, 12C-04318, 38C-13281, 19H-01392, 29C-80711, 88K-4310, 19H-02041, 19H-03183, 19H-02123, 19C-10303, 19H-00760, 26C-08257, 34H-01856, 19H-01087, 19C-08086, 37C-25536, 78C-00431, 17C-08878, 26C-04400, 33H-7576, 30T-4030, 29C-92914, 19C-09181, 19H-01024, 29C-24672, 19N-3483, 23C-01611, 89C-04909".
Ngày 10/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 85 trưng cầu Phòng K “khôi phục dữ liệu, hình ảnh, tài liệu, tin nhắn trên các ứng dụng Zalo, Facebook, các ứng dụng nhắn tin khác của 03 điện thoại di động đã tạm giữ. Trong đó có 02 điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Thị Mỹ N và 01 điện thoại sử dụng để chụp ảnh phương tiện đến đăng kiểm thu giữ tại Trung tâm Đl”. Tại bản kết luận giám định số 668/KL-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh P xác định: “Tìm thấy 107195 tệp ảnh lưu trữ trong máy điện thoại sử dụng để chụp ảnh phương tiện đến đăng kiểm tại Trung tâm Đ1 trong đó có các hình ảnh gốc của phương tiện đến đăng kiểm trước khi được chỉnh sửa, cắt ghép. Đối với 02 điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Thị Mỹ N các dữ liệu khôi phục không có liên quan đến hành vi vi phạm”.
Ngày 18/5/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 90 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định “dữ liệu, hình ảnh của 06 phương tiện có biển số: 99C-02838; 90C-01459; 19C-05821; 34L-2972; 19C-155.16 và 29H-585.67 được chụp tại Trung tâm 19-05D khi đăng kiểm và 06 hình ảnh được chụp từ các phương tiện có biển số 99C-02838; 90C-01459; 19C-05821; 19H-03426; 19C-155.16 và 29H-585.67 khi Cơ quan CSĐT Công an huyện T đi xác minh có phải là hình ảnh của cùng một phương tiện hay không”. Tại bản kết luận giám định số 662/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận “06 hình ảnh phương tiện được chụp tại trung tâm Đ1 khi đăng kiểm và 06 hình ảnh phương tiện được chụp khi Cơ quan CSĐT Công an huyện T đi xác minh là hình ảnh của cùng một phương tiện”.
Ngày 10/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 111 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P “khai thác dữ liệu và tìm máy chủ trong 13 cây máy tính và 01 một máy tính xách tay đã tạm giữ tại trung tâm Đ1. Khai thác, khôi phục dữ liệu tại máy tính cây để tại phòng làm việc của Nguyễn Thị Mỹ N và máy tính cây tại phòng giám đốc Công ty T12”. Tại bản kết luận giám định số 927/KL-KTHS ngày 14/7/2023 Của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Không tìm thấy máy chủ trong 13 case máy tính, 01 máy tính sách tay. Trong các case máy tính đều tìm thấy các file tài liệu, flie ảnh. Các tài liệu, file ảnh được sao lưu vào 01 ổ cứng”.
Căn cứ kết quả điều tra ngày 23/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định Khởi tố vụ án, Khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Mỹ N, là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty T12, Giám đốc trung tâm Đ1; và Nguyễn Văn H, nguyên là Phó giám đốc trung tâm Đ1 (từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/9/2022) về hành vi “Nhận hối lộ” quy định tại Khoản 1, Điều 354 Bộ luật Hình sự.
Ngày 13/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp tục ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Xuân T1 và Vũ Anh T2 đều nguyên là Phó giám đốc Trung tâm Đ1 cùng về hành vi “Nhận hối lộ” quy định tại Khoản 1, Điều 354 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Xuân T1 và Vũ Anh T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Công ty cổ phần T12 (gọi tắt là Công ty T12) được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh P cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần M2, đăng ký lần đầu ngày 25/10/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 01/8/2022. Địa chỉ trụ sở chính: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc Công ty là Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 08/12/1989, thường trú khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Từ ngày 01/8/2022 ông Nguyễn Đức H1, (sinh ngày 12/11/1984, thường trú thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) là giám đốc Công ty còn Nguyễn Thị Mỹ N là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty.
Trung tâm Đ1 (gọi tắt là Trung tâm Đ1) là đơn vị trực thuộc Công ty T12 có cùng địa chỉ tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ được Cục Đ2 cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới số: 1905/ĐKVN-1 ngày 28/02/2020. Tại Trung tâm có 01 dây chuyền kiểm định loại II. Giám đốc trung tâm Đ1 là Nguyễn Thị Mỹ N.
Việc kiểm tra, đánh giá tình trạng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện xe cơ giới tại các Trung tâm đăng kiểm trong năm 2021, 2022 được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 70/2015/TT-BGTVT ngày 09/11/2015 của Bộ G quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, được thay thế bằng Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT ngày 12/8/2021. Các phương tiện xe cơ giới khi đến đăng kiểm tại trung tâm sẽ được các Đăng kiểm viên kiểm tra, đánh giá qua 05 công đoạn gồm: Công đoạn 1: Kiểm tra, nhận dạng tổng quát; Công đoạn 2: Kiểm tra phần trên của phương tiện; Công đoạn 3: Kiểm tra phanh và độ trượt ngang; Công đoạn 4: Kiểm tra môi trường; Công đoạn 5: Kiểm tra phần dưới của phương tiện. Từng công đoạn sẽ có các nội dung và phương pháp kiểm tra theo quy định. Quá trình đăng kiểm phương tiện xe cơ giới sẽ phải được chụp ảnh phương tiện gồm ảnh tổng thể và ảnh biển số xe để lưu trữ và in trên giấy chứng nhận kiểm định.
Khi kiểm tra, đánh giá tình trạng kỹ thuật của phương tiện nếu phương tiện nào không có khiếm khuyết, hư hỏng (sau đây gọi tắt là lỗi) cả 05 công đoạn thì đăng kiểm viên sẽ ghi nhận “đạt” đối với từng công đoạn kiểm định và chủ phương tiện sẽ được cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (Giấy chứng nhận kiểm định), đối với phương tiện có lỗi hư hỏng nguy hiểm hoặc quan trọng ở một trong năm công đoạn thì Đăng kiểm viên sẽ ghi nhận, đánh giá nội dung “không đạt” trên phầm mềm kiểm định và thông báo lỗi để chủ phương tiện đi sửa chữa, khắc phục.
Khi làm thủ tục đăng kiểm chủ phương tiện phải nộp các loại giấy tờ có liên quan của phương tiện để phục vụ việc kiểm tra, đối chiếu. Nếu phương tiện được cấp giấy chứng nhận kiểm định mới thì chủ phương tiện phải nộp các loại phí gồm: Phí kiểm định, phí cấp giấy chứng nhận và phí sử dụng đường bộ theo quy định của Nhà nước.
Trong năm 2021, 2022 Nguyễn Thị Mỹ N là Giám đốc quản lý, điều hành hoạt động của Trung tâm đăng kiểm 19-05D. Quá trình trung tâm hoạt động từ tháng 3/2020 đến tháng 12/2020 Nguyễn Thị Mỹ N nhận thấy có nhiều chủ phương tiện khi đến đăng kiểm tại trung tâm muốn đưa một khoản tiền ngoài các loại phí phải đóng theo quy định để xin bỏ qua lỗi trong quá trình khám phương tiện và xin được cấp giấy chứng nhận kiểm định mà sẽ không phải đi sửa chữa lỗi của phương tiện.
Do vậy, từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2022 Nguyễn Thị Mỹ N đã dùng những phương thức khác nhau để có thể nhận được khoản tiền này từ các chủ phương tiện, sau đó bỏ qua lỗi cho phương tiện đến đăng kiểm và chỉ đạo cấp giấy chứng nhận kiểm định cho các chủ phương tiện mà N đã nhận tiền không đúng quy định. Trong thời gian từ 01/01/2021 đến ngày 31/12/2022 Nguyễn Thị Mỹ N đã lần lượt bổ nhiệm tổng cộng 07 Phó giám đốc, phụ trách dây chuyền làm việc tại Trung tâm. Trong đó có 03 Phó giám đốc do Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp ký kết hợp đồng lao động và 04 Phó giám đốc do Nguyễn Thị Mỹ N ký kết hợp đồng mượn của các trung tâm đăng kiểm khác trên cả nước. Trong từng khoảng thời gian Nguyễn Thị Mỹ N thực hiện hành vi vi phạm với phương thức, cách thức khác nhau, cụ thể như sau:
Trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 13/6/2021:
Nguyễn Thị Mỹ N trao đổi, bàn bạc với Nguyễn Xuân T1 là Phó giám đốc - phụ trách dây chuyền kiểm định và là người ký ban hành giấy chứng nhận kiểm định, về việc khi các phương tiện đến đăng kiểm thì Nguyễn Xuân T1 sẽ cùng Đăng kiểm viên tập hợp lỗi của phương tiện, sau đó T1 sẽ là người thông báo cho chủ phương tiện biết, quá trình thông báo lỗi nếu có chủ phương tiện nào muốn đưa một khoản tiền để xin bỏ qua và xin được cấp giấy chứng nhận kiểm định luôn mà không phải đi sửa chữa thì T1 sẽ hướng dẫn chủ phương tiện gặp Nguyễn Thị Mỹ N tại khu vực gầm cầu thang lên tầng hai của Trung tâm để N sẽ nhận tiền của những người này, cònThọ sẽ hợp thức hồ sơ kiểm định để cấp giấy chứng nhận cho các chủ phương tiện đã đưa tiền. Nếu sau khi thông báo lỗi mà chủ phương tiện không đồng ý chi một khoản tiền ngoài các loại phí theo quy định thì T1 sẽ yêu cầu chủ phương tiện đi sửa chữa, khắc phục sau đó tiếp tục quay lại đăng kiểm theo quy định. Số tiền nhận được từ các chủ phương tiện thì hàng ngày N và T1 sẽ chia nhau với tỷ lệ N được hưởng 75%, T1 được hưởng là 25%. Thực hiện theo thoả thuận, bàn bạc từ trước khi các phương tiện đến đăng kiểm T1 sẽ là người tập hợp lỗi của phương tiện và làm việc, gợi ý chủ phương tiện bỏ ra một khoản tiền (ngoài các loại phí theo quy định) để được bỏ qua lỗi và cấp giấy chứng nhận kiểm định, hướng dẫn chủ phương tiện gặp Nguyễn Thị Mỹ N để làm việc. Khi thấy N làm việc và nhận tiền của chủ phương tiện xong thì T1 sẽ hợp thức hồ sơ kiểm định bằng cách ghi nhận “đạt” trên phiếu kiểm định đối với công đoạn có lỗi, hoặc thông báo cho các Đăng kiểm viên Quất Thanh T4, (sinh năm 1987 ở xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang); Nguyễn Đoàn T5, (sinh năm 1980 ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An); Vũ Xuân T6, (sinh năm 1990 ở xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng) bỏ qua lỗi của phương tiện để phương tiện đó đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận kiểm định. Khi Nguyễn Thị Mỹ N không có mặt tại trung tâm thì Nguyễn Xuân T1 sẽ là người trực tiếp làm việc và nhận tiền của các chủ phương tiện ở khu vực gầm cầu thang của Trung tâm để bỏ qua lỗi và ký để cấp giấy chứng nhận kiểm định cho chủ phương tiện đã đưa tiền trước đó. Các lỗi được Nguyễn Xuân T1 bỏ qua để cấp giấy chứng nhận kiểm định gồm: Xe lắp thêm bàn nâng hạ hàng hoá mà chưa làm thủ tục cải tạo, xe cơi nới kích thước thùng hàng; xe thiếu cơ cấu khoá hãm; xe thay đổi kết cấu nắp thùng chở hàng... Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác định trong giai đoạn của Nguyễn Xuân T1 là Phó giám đốc thì T1 (từ ngày 01/01/2021 đến ngày 13/6/2021) đã ký để cấp giấy chứng nhận kiểm định cho 48 phương tiện khi những phương tiện đó có tồn tại lỗi ở một trong năm công đoạn không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận kiểm định gồm các phương tiện có biển số như sau: 21H-4679, 19C-08471, 19C-12408, 20C-07557, 90C-00720, 29C-64514, 36C-15626, 19C-05570, 88C-15299, 37C-04689, 19C-04336, 14C-00409, 19C-04444, 19C-16620, 19H-00702, 21C-03719, 29H-27760, 19C-00448, 89C-04909, 19H-00458, 19C-08086, 22C-05574, 19C-14287, 19C-15360, 14M-3621, 17C-02596, 15C-30861, 19H-00760, 29C-24672, 11C-04346, 14N-0322, 19C-08803, 28C-02953, 14C-27608, 19C-16372, 29C-85388, 21C-07105, 22C-04202, 15C-07315, 99C-02838, 19C-11691, 89C-01527, 19C-03969, 19C-14733, 19C-09675, 29C-66337, 19C-13618, 19C-00749.
Trong số 48 chủ phương tiện thì có 36 chủ phương xác định khi đến đăng kiểm tại trung tâm ngoài việc phải đóng phí đường bộ, phí kiểm định thì chủ phương tiện còn bị mất thêm số tiền từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng để đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N; và Nguyễn Xuân T1 để được bỏ qua lỗi của phương tiện. Các phương tiện có biển số như sau: 21H-4679, 19C-08471, 19C-14675, 20C-07557, 90C-00720, 19C-00749, 88C-15299, 37C-04689, 19C-04336, 14C-00409, 19C-01166, 19C-04444, 19H-00702, 21C-03719, 19C-03969, 89C-04909, 19C-08086, 22C-05574, 19C-14287, 19C-15360, 15C-30861, 19H-00760, 29C-24672, 29C-15906, 14N-0322, 28C-02953, 14C-27608, 21C-07105, 22C-04202, 19C-11691, 89C-01527, 19C-03969, 19C-14733, 19C-09675, 29C-66337, 19C-13618. Sau khi 36 chủ phương tiện này đưa tiền cho N hoặc T1 thì đều không phải đi sửa chữa lỗi mà sẽ được cấp giấy chứng nhận kiểm định mới. Tổng số tiền 36 chủ phương tiện này đã đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N và Nguyễn Xuân T1 là 18.000.000 đồng. Trong đó có 05 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Xuân T1 số tiền là 2.500.000 đồng còn 31 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N số tiền là 15.500.000 đồng.
Trong thời gian từ ngày 14/6/2021 đến ngày 13/4/2022:
Trong thời gian này do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên Trung tâm 19-05D thiếu Đăng kiểm viên bậc cao. Nguyễn Thị Mỹ N với tư cách là Chủ tịch HĐQT kiểm giám đốc Công ty T12 đã lần lượt ký kết 04 văn bản thoả thuận mượn Đăng kiểm viên bậc cao của 03 Công ty gồm Công ty TNHH Đ3, địa chỉ ở xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội; Công ty CP Đ4, địa chỉ ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và Công ty TNHH N3, địa chỉ ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi ký kết văn bản thoả thuận mượn đăng kiểm viên thì các trung tâm đăng kiểm thuộc các công ty nêu trên có điều lần lượt các Đăng kiểm viên bậc cao đến làm việc tại Trung tâm Đ1 gồm: Nguyễn Văn N1, (sinh ngày 16/01/1985, thường trú xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc); Lê Đức M1, (sinh ngày 24/04/1986, thường trú phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk); Hồ Phi T7, (sinh ngày 16/6/1984, thường trú phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk); Phan Hoài N2, (sinh ngày 03/02/1982, thường trú xã H, thành phố B, Đắk Lắk). Các Đăng kiểm viên này khi đến Trung tâm Đ1 làm việc được Nguyễn Thị Mỹ N bổ nhiệm giữ chức vụ Phó giám đốc-phụ trách dây chuyền kiểm định và là người ký ban hành giấy chứng nhận kiểm định. Cụ thể, Nguyễn Văn N1 là Phó giám đốc trong thời gian từ ngày14/06/2021 đến ngày 13/7/2021; Lê Đức M1 là Phó giám đốc trong thời gian từ ngày 19/7/2021 đến 24/10/2021, Hồ Phi T7 là Phó giám đốc trong thời gian từ ngày 25/10/2021 đến 29/01/2022, Phan Hoài N2 là Phó giám đốc từ ngày 01/2/2022 đến ngày 13/4/2022.
Do Nguyễn Văn N1, Lê Đức M1, Hồ Phi T7, Phan Hoài N2 là những người làm việc tại các Trung tâm đăng kiểm khác và đến trung tâm Đ1 làm việc theo diện điều chuyển trong thời gian nhất định nên trong thời gian này N không bàn bạc, thoả thuận, trao đổi gì với Nguyễn Văn N1, Lê Đức M1, Hồ Phi T7, Phan Hoài N2 về việc để N sẽ bỏ qua lỗi của các phương tiện đến đăng kiểm để N sẽ nhận tiền từ chủ phương tiện.
Để thực hiện được việc nhận tiền của các chủ phương tiện một cách thuận lợi và không để các Phó giám đốc biết. Nguyễn Thị Mỹ N đã yêu cầu các Phó giám đốc thực hiện việc đăng kiểm theo quy trình do N đưa ra. Cụ thể khi các phương tiện đến làm thủ tục đăng kiểm thì bên ngoài dây chuyền các Đăng kiểm viên chưa ghi nhận, đánh giá kết quả ngay trên phần mềm kiểm định mà phải tập hợp các lỗi của phương tiện ghi ra giấy và chuyển lại cho N để N biết và thông báo, làm việc với các chủ phương tiện và yêu cầu đi sửa chữa, khắc phục. Sau đó N sẽ thông báo qua hệ thống loa của trung tâm để yêu cầu chủ phương tiện vào phòng “đăng kiểm viên” để làm việc. Tại đây, N thông báo cho chủ phương tiện biết các lỗi của phương tiện. Sau khi thông báo nếu chủ phương tiện nào đưa một khoản tiền để xin N bỏ qua và xin được cấp giấy chứng nhận kiểm định mà không phải đi sửa chữa thì N sẽ đồng ý nhận tiền của những người này. Sau đó, N ra dây chuyền chỉ đạo Đăng kiểm viên Vũ Xuân T6, (sinh năm 1990 ở xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Đoàn T5, (sinh năm 1980 ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An); Nguyễn Hồng Q, (sinh năm 1981 ở phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc); Trần Văn T8, (sinh năm 1979 ở phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An); Phạm Minh T9, (sinh năm 1995 ở xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình); Nguyễn Văn H2, (sinh năm 1996 ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) phụ trách công đoạn có lỗi bỏ qua và ghi nhận “đạt” đối với công đoạn có lỗi. Sau đó. N đưa ra một số lý do để đề nghị Phó giám đốc, phụ trách dây chuyền tạo điều kiện bỏ qua lỗi của phương tiện và cấp giấy chứng nhận kiểm định cho phương tiện đó như: Tạo điều kiện để trung tâm thu hút thêm khách hàng; chủ phương tiện là người quen hoặc là anh, em...Khi N đề nghị thì có một số phương tiện đã được Phó giám đốc, Đăng kiểm viên đồng ý bỏ qua lỗi để cấp giấy chứng nhận kiểm định. Các lỗi được bỏ qua gồm: Xe lắp thêm bàn nâng hạ hàng hoá mà chưa làm thủ tục cải tạo, xe cơi nới kích thước thùng hàng; xe thiếu cơ cấu khoá hãm; xe thay đổi kết cấu nắp thùng chở hàng;...
Quá trình thông báo lỗi nếu chủ phương tiện nào không đưa tiền thì N sẽ yêu cầu chủ phương tiện đó đi sửa chữa rồi mới tiếp tục quay lại đăng kiểm tại trung tâm.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã xác định trong thời gian từ 14/6/2021 đến ngày 13/4/2022 có 95 chủ phương tiện (đăng kiểm đối với 102 phương tiện) khi đến đăng kiểm tại Trung tâm Đ1 thì được hệ thống loa của trung tâm thông báo mời vào phòng “đăng kiểm viên”để làm việc. Tại đây thì các chủ phương tiện được Nguyễn Thị Mỹ N thông báo lỗi của phương tiện và phải đi sửa chữa. Do không muốn mất thời gian và tiền để đi khắc phục nên các chủ phương tiện đã đưa cho N một khoản tiền (ngoài các loại phí quy định) từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng để được bỏ qua và không phải đi sửa chữa. Sau khi đưa tiền cho N thì các chủ phương tiện đều được cấp giấy chứng nhận kiểm định mới. Tổng số tiền 95 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N là 50.600.000 đồng. Các phương tiện có biển số gồm: 21C-03719, 19C-08990, 19C-06212, 25C-00426, 11H-00014, 88C-12531, 88C-11556, 29C-85978, 19N-1100, 36C-07458, 89C-16961, 27C-00314, 21C-03173, 19H-00002, 21C-03250, 14P-1834, 17C-00368, 14N-7787, 19H-00760, 19C-10349, 19C-07877, 20L-1070, 19C-03969, 19N-3299, 21C-02310, 28C-02343, 29A-59364, 26C-08257, 19C-11516, 19C-04336, 26C-06601, 26C-04400, 81C-09514, 20C-11325, 21C-03637, 19H-01024, 98K-7794, 88C-03895, 29V-8945, 24C-04423, 92K-9254, 29C-24672, 22C-05378, 89C-10527, 29C-15906, 19C-17955, 29C-25256, 19H-01539, 19C-06045, 37C-36092, 14N-0322, 19C-02496, 19C-05927, 30P-5099, 86C-00186, 99C-02838, 29C-04939, 21C-01297, 33M-3756, 14N-7978, 30S-7666, 26C-01865, 30Y-5666, 19A-03944, 88C-03282, 47C-09920, 18N-5846, 19C-05821, 19C-13531, 19N-3654, 20C-12073, 19H-01860, 29C-66337, 24C-00141, 19L-8841, 21H-4322, 14C-19067, 19C-06335, 19C-14675, 99C-10220, 34L-9217, 20C-07557, 29H-20135, 88C-14537, 19C-09675, 17C-08100, 98H-1457, 16H-6037, 98H-2126, 99K-6476, 19C-13618, 29C-37164, 29C-08711, 19C-04831, 19C-14733.
Trong thời gian từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/12/2022:
Trong thời gian này Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp ký kết hợp đồng lao động thuê Nguyễn Văn H, Vũ Anh T2 đến làm việc tại trung tâm Đ1. Sau đó lần lượt bổ nhiệm hai người này là Phó giám đốc phụ trách dây chuyền kiểm định tại Trung tâm đăng kiểm 19-05D và là người ký giấy chứng nhận kiểm định. Nguyễn Văn H là Phó giám đốc phụ trách dây chuyền từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/9/2022 còn Vũ Anh T2 là Phó giám đốc phụ trách dây chuyền từ ngày 01/10/2022 đến ngày 30/12/2022. Khi ký kết hợp đồng làm việc tại trung tâm thì Nguyễn Thị Mỹ N đều trao đổi với Nguyễn Văn H và Vũ Anh T2 về việc thực hiện đăng kiểm các phương tiện theo quy trình như sau: Khi các phương tiện đến đăng kiểm thì Nguyễn Văn H và Vũ Anh T2 phụ trách ngoài dây chuyền chưa ghi nhận lỗi của phương tiện trên phần mềm kiểm mà sẽ chỉ đạo các Đăng kiểm viên tập hợp lỗi của phương tiện ra giấy khổ A5, sau đó trực tiếp H, T2 sẽ chuyển lại tờ giấy ghi lỗi cho N để N làm việc với chủ phương tiện tại phòng “Đăng kiểm viên”. Nếu phương tiện nào có lỗi hư hỏng không quan trọng thì H và T2 sẽ hoàn thiện hồ sơ để cấp giấy chứng nhận kiểm định theo quy định. Nếu phương tiện nào tồn tại lỗi hư hỏng quan trọng và nguy hiểm thì phải đợi N làm việc với chủ phương tiện và khi N có ý kiến chỉ đạo thì H và T2 mới tiếp tục ghi nhận đánh giá trên phần mềm kiểm định. Nếu N làm việc được với chủ phương tiện thì N sẽ chỉ đạo H và T2 hợp thức hồ sơ, hình ảnh của phương tiện để cho phương tiện đó đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận kiểm định. Còn không làm việc được với chủ phương tiện thì N sẽ yêu cầu đi sửa chữa, khắc phục lỗi theo quy định. Khi thực hiện các nội dung công việc thì H và T2 sẽ nhận được mức lương là 25.000.000 đồng/ một tháng.
Khi N trao đổi về nội dung nêu trên thì Nguyễn Văn H và Vũ Anh T2 đồng ý thực hiện nội dung mà N đã đưa ra. Khi các phương tiện đến đăng kiểm thì Nguyễn Văn H và Vũ Anh T2 chỉ đạo Đăng kiểm viên tập hợp lỗi của phương tiện ghi ra tờ giấy khổ A5, sau đó H và T2 sẽ chuyển lại tờ giấy ghi lỗi cho N. Khi nhận được tờ giấy ghi lỗi của phương tiện Ngân sẽ thông báo qua hệ thống loa gắn tại khu vực chờ của khách hàng đến đăng kiểm, để mời các chủ phương tiện vào phòng “Đăng kiểm viên” làm việc. Tại đây sau khi N thông báo lỗi cho chủ phương tiện biết, thì có nhiều chủ phương tiện đã đưa một khoản tiền để xin được bỏ qua và được cấp giấy chứng nhận kiểm định hoặc có một số phương tiện thì N yêu cầu phải đưa một khoản tiền ngoài các loại phí thì mới đăng kiểm được nếu không thì phải đi sửa chữa, khắc phục lỗi. Sau khi nhận tiền của chủ phương tiện thì N sẽ chỉ đạo H và T2 hợp thức hồ sơ, hình ảnh của phương tiện để phương tiện đó có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận kiểm định. Còn nếu chủ phương tiện không đưa tiền để xin bỏ qua thì N sẽ yêu cầu đi sửa chữa, khắc phục lỗi sau đó mới quay lại tiếp tục đăng kiểm. Đối với một số phương tiện được bỏ qua lỗi cơi nới chiều cao, chiều dài thùng hàng hoặc các chi tiết của kết cấu; kiểu loại thùng hàng không đúng tiêu chuẩn của nhà sản xuất thì khi chụp ảnh phương tiện Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Văn H hoặc Vũ Anh T2 cho một số phương tiện sử dụng bạt có sẵn tại trung tâm để che vào khiếm khuyết khi chụp ảnh xong Nguyễn Văn H, Vũ Anh T2 sẽ thực hiện chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh phương tiện hoặc chỉ đạo Đăng kiểm viên Phạm Minh T9, Đoàn Minh D, Nhân viên nghiệp vụ Đỗ Thành T10 thực hiện chỉnh sửa, cắt gép hình ảnh cho phù hợp với tiêu chuẩn của nhà sản xuất với mục đích khi in hình ảnh trên giấy chứng nhận kiểm định mới hoặc khi bị kiểm tra sẽ không phát hiện được việc Trung tâm đăng kiểm đã bỏ qua lỗi của phương tiện. Đối với những hình ảnh cần chỉnh sửa ở nhiều chi tiết thì Nguyễn Văn H, Vũ Anh T2 sẽ thông báo lại cho Nguyễn Thị Mỹ N biết về việc cần phải chỉnh sửa hình ảnh của phương tiện. Khi đó N sẽ chỉ đạo đăng kiểm viên Đoàn Minh D, Phạm Minh T9 hoặc nhân viên nghiệp vụ Đỗ Thành T10 thực hiện chỉnh sửa hình ảnh của phương tiện. Việc chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh thì đều thực hiện ở máy tính thứ ba đặt tại dây chuyền kiểm định và sử dụng phầm mềm Panit để hỗ trợ việc chỉnh sửa. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn H đã thực hiện chỉnh sửa đối với hình ảnh của 09 phương tiện gồm: 19H-01087, 37C-25536, 78C-00431, 99C-02838, 29H-58567, 90C-01459, 19C-14032, 19C-05821, 29C-80711; Vũ Anh T2 đã thực hiện chỉnh sửa đối với hình ảnh của 02 phương tiện gồm xe 26C-04400 và 19N-3483.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã xác định trong thời gian từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/12/2022 có 88 chủ phương tiện được hệ thống loa của trung tâm thông báo mời vào phòng “Đăng kiểm viên” để làm việc. Tại đây thì các chủ phương tiện được Nguyễn Thị Mỹ N thông báo lỗi của phương tiện và phải đi sửa chữa. Do không muốn mất thời gian và tiền để đi khắc phục nên các chủ phương tiện đã đưa cho N một khoản tiền (ngoài các loại phí quy định) để được bỏ qua lỗi và được cấp giấy chứng nhận kiểm định. Tổng số tiền 88 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N số tiền là 49.100.000 đồng. Trong đó giai đoạn của Nguyễn Văn H có 53 phương tiện với số tiền là 28.900.000 đồng, bao gồm các phương tiện có biển số: 19C-08471, 19C-15360, 19C-11691, 29C-85978, 17C-00368, 19C-07877, 19H-01024, 24C-00141, 19L-8841, 19C-06335, 30T-4030, 34H-01856, 19C-08086, 88H-9715, 37C-25536, 19N-1100, 19N-3647, 19C-04831, 29C-24672, 29C-15906, 89C-01527, 14C-08205, 89C-04909, 19C-14287, 19C-04336, 26C-06601, 36C-07458, 90C-03737, 14C-25189, 29C-37164, 29H-58567, 19C-16777, 34C-22462, 14C-23832, 90C-01459, 19C-11787, 19C-05821, 29C-80711, 17C-08100, 99K- 6476, 34L-2972, 19H-02320, 19H-02012, 19A-03944, 12C-04318, 38C-13281, 88H-7614, 88C-11556, 14C-19067, 19C-14675, 19C-01166, 19N-1492, 99C-02838.
Giai đoạn của Vũ Anh T2 có 35 phương tiện với số tiền là 20.200.000 đồng: 9C-11556, 19C-06797, 12K-1218, 29C-37164, 26C-04400, 19C-14287, 26C-08257, 19C-10349, 20C-09155, 98H-2126, 19C-09103, 19C-02777, 29C-80711, 30T-4030, 88K-4310, 71C-08398, 29C-92914, 21C-06698, 19C-09181, 19H-02526, 22C-03525, 29C-15906, 19H-01024, 19H-01504, 19H-01308, 29C-24672, 19C-03969, 19C-04444, 89C-01527, 89C-04909, 36C-07458, 29R-7878, 19C-02847, 19H-02041, 88H-7614.
Trong thời gian từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/9/2022 thì số tiền nhận được từ chủ phương tiện thì hàng tuần N cho Nguyễn Văn H số tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng tuỳ vào số lượng phương tiện được bỏ qua lỗi trong tuần làm việc đó, tổng số tiền H được hưởng lợi là 16.000.000 đồng.
Quá trình xác minh làm việc với các chủ phương tiện có một số chủ phương tiện khai báo khi đến đăng kiểm tại Trung tâm thì được Nguyễn Thị Mỹ N thông báo lỗi của phương tiện cần phải đi sửa chữa và N yêu cầu chủ phương tiện đưa một khoản tiền thì sẽ được bỏ qua, hoặc tạo điều kiện trong quá trình đăng kiểm, nếu chủ phương tiện đưa mức tiền không phù hợp theo yêu cầu của N thì sẽ bị gây khó dễ trong quá trình đăng kiểm phương tiện.
Trong các giai đoạn nêu trên thì các lỗi của phương tiện được bỏ qua là thùng hàng, kết cấu thùng hàng không đúng kiểu loại, cơi nới chiều cao, chiều dài, thay đổi kết cấu bản lề thùng hàng, lắp bàn nâng hạ, lắp bạt điện mà chưa làm thủ tục cải tạo... các lỗi này đều thuộc ở công đoạn 1 và công đoạn 2 trong 05 công đoạn khám phương tiện. Số tiền mà Nguyễn Thị Mỹ N nhận của các chủ phương tiện để bỏ qua lỗi sẽ tuỳ vào từng lỗi khác nhau của phương tiện đăng kiểm và dao động từ 100.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Các chủ phương tiện mà Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Xuân T1 đã nhận tiền để bỏ qua lỗi thì Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Xuân T1 không nhớ được thông tin cá nhân và biển số phương tiện và cũng không nhớ được là nhận của từng chủ phương tiện là bao nhiêu tiền.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Văn H và Vũ Anh T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm đã thực hiện như nêu trên.
Ngày 23/11/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T có Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố số 64 và chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề nghị truy tố. Đến ngày 06/02/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T có công văn số 52 đề nghị rút hồ sơ để điều tra bổ sung đối với một số vấn đề chứng minh trong vụ án đối với Nguyễn Đức H1 và Nguyễn Thị Ngọc M là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ngày 07/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung yêu cầu: Xác định Nguyễn Đức H1 là người đại diện theo pháp luật và là Giám đốc Công ty Cổ phần T12 từ ngày 01/8/2022; Nguyễn Thị Ngọc M là thành viên hội đồng quản trị Công ty Cổ phần T12 có liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Mỹ N và các bị can trong vụ án “Nhận hối lộ” hay không. Vai trò, vị trí của Nguyễn Đức H1 và Nguyễn Thị Ngọc M trong quá trình Trung tâm 19-05D thuộc Công ty Cổ phần T12 hoạt động.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tiến hành điều tra bổ sung, kết quả:
Ngày 12/10/2016, Nguyễn Thị Mỹ N làm đơn đề nghị đăng ký thành lập Công ty T12 với vai trò là người đại diện theo pháp luật, địa chỉ trụ sở ban đầu: Số nhà G, tổ B, Phan Chu T11, TP ., Phú Thọ. Khi đó Công ty T12 có 03 cổ đông tham gia là Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Đức H1. Ngày 25/10/2016, Sở kế hoạch đầu tư tỉnh P cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty T12. Người đại diện theo pháp luật của Công ty T12 là Nguyễn Thị Mỹ N giữ chức vụ giám đốc Công ty.
Từ khi thành lập Công ty đến hết năm 2019 Công ty T12 không có hoạt động gì. Ngày 29/7/2019 Nguyễn Văn Đ không tham gia là cổ đông của Công ty T12 mà chuyển nhượng lại cổ phần cho vợ và bà Nguyễn Thị Ngọc M là mẹ đẻ của Nguyễn Thị Mỹ N để bà M tham gia là Cổ đông của Công ty. Đến tháng 02/2020 Công ty T12 đi vào hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đăng kiểm và thành lập Trung tâm Đ1, địa chỉ: khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi đó Nguyễn Đức H1 không đồng ý góp tiền cùng để kinh doanh mà chỉ có Nguyễn Thị Mỹ N và bà Nguyễn Thị Ngọc M cùng góp tiền.
Ngày 14/7/2021, Công ty T12 thay đổi địa chỉ trụ sở từ số nhà G, tổ B, Phan Chu T11, TP ., Phú Thọ đến Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là nơi Trung tâm đăng kiểm 19-05D hoạt động. Khi đó Nguyễn Thị Mỹ N giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc Công ty. Ngày 26/7/2022, Nguyễn Đức H1 được thay đổi là người đại diện theo pháp luật của Công ty và giữ chức vụ giám đốc còn Nguyễn Thị Mỹ N là Chủ tịch hội đồng quản trị.
Từ khi thành lập Trung tâm Đ1 vào tháng 02/2020 hoạt động đến hết năm 2022 thì Nguyễn Đức H1 không tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành, chỉ đạo, không được nhận bất cứ khoản tiền lợi nhuận hay khoản tiền nào khác từ Nguyễn Thị Mỹ N. Còn bà Nguyễn Thị Ngọc M là cổ đông của Công ty T12 tuy nhiên cũng không tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành, chỉ đạo gì mà chỉ là nhân viên tạp vụ của Công ty, hàng tháng bà Nguyễn Thị Ngọc M nhận được tiền lương do Công ty T12 chi trả ngoài ra không được hưởng nguồn tiền lợi nhuận nào khác từ Công ty T12 hay Trung tâm đăng kiểm 19-05D.
Căn cứ các tài liệu đã thu thập được xác định trong năm 2021, 2022 thì Nguyễn Đức H1, Nguyễn Thị Ngọc M chỉ đăng ký tham gia là cổ đông của Công ty T12, ký vào các tài liệu là biên bản họp cổ đông để thay đổi Nguyễn Đức H1 là Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Trên thực tế khi Trung tâm Đ1 đi vào hoạt động từ tháng 02/2020 thì mọi việc quản lý, điều hành, chỉ đạo ký các loại văn bản, giấy tờ liên quan đến nghiệp vụ của Trung tâm đăng kiểm 19-05D và tài liệu, chứng từ, sổ sách hoạt động của Công ty T12 đều do Nguyễn Thị Mỹ N thực hiện. Nguyễn Đức H1 và Nguyễn Thị Ngọc M không được hưởng bất kể lợi nhuận hay số tiền nào từ hành vi “Nhận hối lộ” của các chủ phương tiện đến đăng kiểm tại Trung tâm A của Nguyễn Thị Mỹ N. Đồng thời Nguyễn Đức H1, Nguyễn Thị Ngọc M không tham gia vào bất cứ hoạt động chuyên môn gì của Trung tâm Đ1, không biết Nguyễn Thị Mỹ N điều hành, quản lý hoạt động của Công ty T12 và Trung tâm Đ1 như thế nào. Không được Nguyễn Thị Mỹ N thông báo về các khoản thu, chi phí của Công ty T12. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Đức H1 và Nguyễn Thị Ngọc M.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 và thông báo sửa chưa, bổ sung bản án số: 27/2024/TB-TA ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
- Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ Điều 354 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N và các bị cáo khác đều phạm tội “Nhận hối lộ”.
2.1. Căn cứ điểm a, c khoản 2, Khoản 5 Điều 354, điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 - Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thị Mỹ N 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023 đến ngày 18/11/2023.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ khoản 5 Điều 354 Bộ luật hình sự;
Phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn áp dụng hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/8/2024 bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Không áp dụng điểm a khoản 2 điều 354 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N và bị cáo Nguyễn Xuân T1.
Áp dụng khoản 1 điều 354 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1 và giữ nguyên hình phạt.
Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N
Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo giữ nguyên hình phạt chính và cho bị cáo được hưởng án treo; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách 50 (Năm mươi) tháng . Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình, có điều kiện nuôi hai con nhỏ và chăm sóc, phụng dưỡng hai mẹ già bị bệnh hiểm nghèo và mẹ liệt sỹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N nộp trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N nhờ luật sư Phạm Thị Thùy L và Phạm Ngọc H3, thuộc công ty L1, đoàn luật sư thành phố Hà Nội bào chữa cho bị cáo. Nhưng tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N từ chối người bào chữa; Việc từ chối người bào chữa của bị cáo phù hợp với điều 77 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 13/6/2021:
Nguyễn Thị Mỹ N trao đổi, bàn bạc với Nguyễn Xuân T1, (sinh năm 1982 ở thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc) bỏ qua lỗi của các phương tiện đến kiểm định. Số tiền nhận được từ các chủ phương tiện thì hàng ngày N và T1 sẽ chia nhau với tỷ lệ N được hưởng 75%, T1 được hưởng là 25%. Tổng số tiền 36 chủ phương tiện này đã đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N và Nguyễn Xuân T1 là 18.000.000đ. Trong đó có 05 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Xuân T1 số tiền là 2.500.000đ còn 31 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N số tiền là 15.500.000đ. Như vậy, Nguyễn Xuân T1 phải chịu trách nhiệm về số tiền 18.000.000 đồng mà 36 chủ phương tiện đã đưa cho N và T1 để được bỏ quan lỗi khi đến đăng kiểm.
Trong thời gian từ ngày 14/6/2021 đến ngày 13/4/2022:
Trong thời gian này do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên Trung tâm 19-05D thiếu đăng kiểm viên bậc cao. Nguyễn Thị Mỹ N với tư cách là Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc Công ty T12 đã lần lượt ký kết 04 văn bản thoả thuận mượn Đăng kiểm viên bậc cao của 03 Công ty gồm Công ty TNHH Đ3, địa chỉ ở xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội; Công ty CP Đ4, địa chỉ ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và Công ty TNHH N3, địa chỉ ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian từ 14/6/2021 đến ngày 13/4/2022 có 95 chủ phương tiện đến đăng kiểm được bỏ qua lỗi. Tổng số tiền 95 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N là 51.100.000 đồng. Như vậy, Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số tiền 51.100.000 đồng mà 95 chủ phương tiện đã đưa cho N để được bỏ qua lỗi khi đến đăng kiểm.
Trong thời gian từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/12/2022:
Trong thời gian này Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp ký kết hợp đồng lao động thuê Nguyễn Văn H, Vũ Anh T2 đến làm việc tại trung tâm Đ1. Sau đó lần lượt bổ nhiệm hai người này là Phó giám đốc, phụ trách dây chuyền kiểm định tại trung tâm A và là người ký giấy chứng nhận kiểm định. Nguyễn Văn H là Phó giám đốc phụ trách dây chuyền từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/9/2022; còn Vũ Anh T2 là Phó giám đốc phụ trách dây chuyền từ ngày 01/10/2022 đến ngày 30/12/2022. Tổng số tiền 88 chủ phương tiện đưa cho Nguyễn Thị Mỹ N là 49.100.000 đồng. Trong đó giai đoạn của Nguyễn Văn H có 53 phương tiện với số tiền là 28.900.000 đồng. Giai đoạn của Vũ Anh T2 có 35 phương tiện với số tiền là 20.200.000 đồng. Trong thời gian từ ngày 14/4/2022 đến ngày 30/9/2022 số tiền nhận được từ chủ phương tiện thì hàng tuần N cho Nguyễn Văn H số tiền từ 800.000đ đến 1.000.000đ tuỳ vào số lượng phương tiện được bỏ qua lỗi trong tuần làm việc đó, tổng số tiền H được hưởng lợi là 16.000.000 đồng. Như vậy, Vũ Anh T2 phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền 20.200.000 đồng mà N đã nhận từ 35 chủ phương tiện để được bỏ quan lỗi khi đến đăng kiểm; và Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền 28.900.000 đồng mà N đã nhận từ 53 chủ phương tiện để được bỏ qua lỗi khi đến đăng kiểm.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N và các bị cáo khác đều phạm tội “Nhận hối lộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
Xét thấy việc truy tố, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N và bị cáo Nguyễn Xuân T1 với tình tiết định khung có tổ chức theo điểm a khoản 2 điều 354 là chưa đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ việc bị cáo N có trao đổi, bàn bạc với bị cáo T1 bỏ qua lỗi vi phạm của các chủ xe cơ giới để nhận tiền hối lộ, lúc thì bị cáo N nhận, lúc thì bị cáo T1 nhận và thỏa thuận chia nhau N được hưởng 75%, còn T1 được hưởng 25%. Việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tích chất đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau, không phân công, sắp đặt vai trò của từng đồng phạm, không lên kế hoạch đối phó khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện. Từ những phân tích trên cấp phúc thẩm cần sửa không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung đối với bị cáo N và bị cáo T1 là phù hợp, đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N và bị cáo Nguyễn Xuân T1 gây ra.
Đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1 bị truy tố và xét xử theo điểm a khoản 2 điều 354 Bộ luật hình sự là chưa đúng quy định của pháp luật, đã được phân tích ở phần trên. Xong Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, đánh giá vai trò của bị cáo trong vụ án để xử phạt bị cáo với mức án 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra do vậy cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Xong cần áp dụng lại khung hình phạt đối với bị cáo cho đúng quy định của pháp luật.
[3] Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N 25 (Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Nhận Hối lộ” là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N không phải chịu tình tiết tăng nặng định khung có tổ chức theo điểm a khoản 2 điều 354 của Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N đã nộp số tiền do phạm tội mà có, số tiền phạt bổ sung, tiền án phí hình sự sơ thẩm là 69.200.000đ, hiện nay bị cáo đang mang thai 25 tuần tuổi, bị cáo đã có nhiều đóng góp vật chất trong công tác thiện nguyện ủng hộ xã M, huyện P, tỉnh Sơn La xây dựng nhà bia Liệt sỹ được UBND xã M, huyện P, tỉnh Sơn La có thư cảm ơn, ngoài ra bị cáo còn được các cơ quan, cá nhân, tổ chức như hội phật giáo... và nhân dân xã nơi bị cáo cư trú đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N là người khởi sướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 01 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, được Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú xác nhận từ trước đến ngày phạm tội bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt mọi chủ chương, đường lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, điều kiện hoàn cảnh gia đình rất khó khăn về kinh tế cũng như hiện nay bị cáo và chồng đang nuôi 02 con nhỏ, phụng dưỡng 02 mẹ già, bản thân đang mang thai và bị bệnh tim, những lần nhận hối lộ số tiền không lớn và lỗi bỏ qua cho các phương tiện dẫn đến nguy cơ mất an toàn giao thông không cao, nên lần phạm tội này không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật và đường lối xét xử hình sự. Do vậy cần sửa bản án hình sự sơ thẩm số:45/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N là phù hợp.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[6]. Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N.
Không áp dụng điểm a khoản 2 điều 354 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N và bị cáo Nguyễn Xuân T1.
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 điều 354; Điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 54; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N.
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Xuân T1.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Xuân T1 phạm tội “Nhận hối lộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách 50 (Năm mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T1 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về các vấn đề khác:
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N đã nộp số tiền phạt bổ sung, tiền truy thu sung quỹ nhà nước, tiền án phí sơ thẩm tổng là 69.200.000đồng (Sáu mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng). Theo biên lai thu tiền số 0003564 và 0003565 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
[2]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ N không phải chịu án phí.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI DÒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội nhận hối lộ
- Số bản án: 14/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Nhận hối lộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mỹ N - nhận hối lộ
