TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-PT Ngày: 17/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào Vi
Các Thẩm phán:Ông Huỳnh Trọng Cẩn
Bà Trần Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Phước Ngưỡng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 282/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H).
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 03/2/1996, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); nghề nghiệp: làm nghề điện lạnh; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; Có vợ là Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 1994 và có 01 người con sinh năm 2023; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sinh sống và học tập tại địa phương, đi học hết lớp 08/12 thì nghỉ học.
Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T vào làm việc tại Công ty Cổ phần T5 ở thành phố H từ tháng 3 năm 2018. Ngày 01/01/2023, Công ty Cổ phần T5 thành lập Công ty con là Công ty Cổ phần D - sửa chữa - bảo hành Tận T2 có địa chỉ tại đường số C, khu công nghiệp A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì T được Công ty T6 ký hợp đồng số 2023/01/0279/HĐLĐ-KXĐTH-BHTT. Nhiệm vụ của T là nhân viên giao hàng, lắp đặt, thu tiền của khách hàng tại địa bàn thành phố H, sau khi lắp đặt xong sản phẩm thì phải hoàn tiền sản phẩm cho Công ty chậm nhất trong vòng 24 giờ. Trong thời gian làm việc tại Công ty, T có quen biết với anh Huỳnh Văn L là chủ doanh nghiệp tư nhân Đ máy điện lạnh Huỳnh Gia .
Ngày 05/12/2023, chị Trần Thị Bích N mua 01 máy sấy hiệu Electrolux EDV754H3WB với giá 7.890.000 đồng và ông Nguyễn Văn T3 mua 01 T7 KD-43X77L với giá 11.405.000 đồng tại cửa hàng T8 - Chi nhánh Công ty cổ phần T5 tại thành phố H. Cùng ngày, T đi giao 02 đơn hàng của chị N và ông T3 với tổng số tiền là 19.295.000 đồng. Chị N và ông T3 đã chuyển khoản số tiền là 19.295.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần N2 chi nhánh H1 số 0161001717182 mang tên Nguyễn Văn T. Sau khi khách hàng chuyển tiền, T đã sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân hết nên không có tiền nộp lại cho Công ty.
Theo quy định của Công ty thì sau khi nhân viên giao hàng xong và nhận tiền của khách, trong vòng 24 giờ phải thanh toán tiền cho Công ty nên vào ngày 06/12/2023, T phải thanh toán số tiền 19.295.000 đồng đã thu của khách hàng. Do T đã tiêu xài hết và không có tiền để nộp cho Công ty nên T đã nảy sinh ý định lừa anh L đặt cọc tiền mua hàng điện máy để Triển thanh toán tiền cho Công ty đối với 02 đơn hàng đã giao cho chị N và ông T3. Thực hiện ý định, T truy cập ứng dụng Facebook tên "Triển N1" nhắn tin cho anh L với tài khoản Facebook tên "Huỳnh Lịch" để chào bán 08 máy sấy hiệu Electrolux thì anh L đồng ý mua. Triển yêu cầu anh L phải đặt cọc tiền trước. Anh L nói T đưa số tài khoản của Công ty để chuyển tiền nên T nhắn tin gửi cho anh L 02 mã QR thanh toán (đây là hai mã đặt hàng của chị N và anh T3) và nói đó là mã đặt hàng cho đơn hàng của anh L thì anh L đồng ý. Anh L chuyển khoản theo mã QR 02 lần với tổng số tiền là 19.295.000 đồng. Triển nhắn tin hẹn giao hàng cho anh L trong vòng 10 ngày nhưng đến ngày 16/12/2023 T không giao hàng như đã hẹn.
Ngày 03/01/2024, T tạo giả 02 mã đơn đặt hàng là mã 000016S023120479673 và mã 00006S0231250479817 cùng 01 hình ảnh chuyển hoàn tiền không có thật của Công ty rồi gửi cho anh L để anh L tin là T đã gửi trả hàng cho anh L. Do nghi ngờ, anh L nhờ kiểm tra các mã đặt hàng trên thì biết là không có thật nên đã đến Công an thành phố H trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của anh Huỳnh Văn L.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 cho anh Huỳnh Văn L.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường số tiền 19.295.000 đồng cho anh Huỳnh Văn L. Anh L đã nhận đủ và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 282/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H), đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T4 là đúng chủ thể, nội dung và thời hạn nên Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết và xét xử là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm nhưng vì muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức hình phạt 09 (chín) tháng tù là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường hết tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng tại Tổ dân phố A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H). Bị cáo không phạm điều cấm quy định tại Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Nhận thấy bị cáo Nguyễn Văn T có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Việc cho bị cáo hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm, áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt tù là từ tù giam sang cho hưởng án treo.
Bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận với Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo vào ngày 04/10/2024 nên kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T trong hạn luật định, hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền để trả nợ cá nhân nên vào ngày 06/12/2023, Nguyễn Văn T đã có hành vi lừa anh Huỳnh Văn L đặt cọc tiền mua hàng để chiếm đoạt với số tiền là 19.295.000 đồng. Với hành vi nêu trên, bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn T nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền trả nợ cá nhân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại các điểm b, i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không vi phạm điều cấm quy định tại Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và bị hại cũng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, nhưng thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt tù là từ tù giam sang cho hưởng án treo.
- [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 282/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H).
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, quận P, thành phố H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Đào Vi |
Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 14/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
