Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-PT

Ngày: 03 – 04 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Ông Phùng Văn Định

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 13/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Anh K do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Anh K, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1989 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: số E, đường C, Khóm G, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H; có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Trịnh Thị Mỹ P, sinh năm 1987; nơi cư trú: số B, ấp C, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 03 tháng 10 năm 2019 đến ngày 09 tháng 12 năm 2019, bị cáo đã cho bà P vay tiền 05 lần, khi vay tiền hai bên ký hợp đồng vay tiền thể hiện mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng từ 4%/tháng - 5%/tháng. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã chứng minh được thực tế bà P phải trả cho bị cáo lãi suất là 01%/ngày (tương ứng 365%/năm) và bà P phải chuyển trả lãi cho bị cáo mỗi ngày, cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: vào ngày 03 tháng 10 năm 2019: vay số tiền 350.000.000đ.
  • Lần thứ hai: vào ngày 01 tháng 11 năm 2019: vay số tiền 100.000.000đ.
  • Lần thứ ba vào ngày 05 tháng 11 năm 2019: vay số tiền 50.000.000đ.
  • Lần thứ tư: vào ngày 12 tháng 11 năm 2019: vay số tiền 50.000.000đ.
  • Lần thứ năm: vào ngày 09 tháng 12 năm 2019: vay số tiền 80.000.000đ.

Tổng số tiền bị cáo đã cho bà P vay là 630.000.000đ, tuy nhiên đối với số tiền vay lần thứ năm bà P chưa đóng lãi cho bị cáo nên bị cáo chưa thu lợi bất chính. Đối với số tiền vay còn lại của 04 lần vay là 550.000.000đ, bị cáo đã thu được số tiền lãi của bà P là 147.000.000đ (trong đó: số tiền lãi theo quy định là 8.054.795đ, số tiền thu lợi bất chính là 138.945.205đ).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 09 (chín) tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Anh K số tiền 30.000.000đ.
  3. Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo Nguyễn Anh K nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 488.054.795đ.

Buộc bà Trịnh Thị Mỹ P nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 70.000.000đ.

Buộc bị cáo Nguyễn Anh K trả cho bà Trịnh Thị Mỹ P tiền thu lợi bất chính số tiền 24.745.205đ.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tiền Việt Nam 20.000.000đ đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo Biên lai thu tiền số 0000637 ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được đối trừ số tiền 488.054.795đ mà bị cáo K phải nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 22 tháng 01 năm 2025 bị cáo kháng cáo với các nội dung như sau:

  • Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.
  • Xin miễn phạt bổ sung.
  • Bị cáo chỉ đồng ý nộp sung quỹ 8.054.795đ và trả cho bà P 24.745.205đ, không đồng ý nộp sung quỹ 480.000.000đ, vì bà P chưa trả cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và sửa bản án hình sự sơ thẩm, theo hướng: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình phạt; sửa phần tuyên về biện pháp tư pháp, theo hướng:

  • Buộc bị cáo K nộp số tiền 285.800.000đ từ Trịnh Thị Mỹ P phải trả cho bị cáo K để sung quỹ nhà nước theo Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
  • Buộc bị cáo K phải nộp lại số tiền gốc là 114.200.000đ để tịch thu sung vào quỹ Nhà nước, lý do: khoản tiền lãi 114.200.000đ, theo Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đã đối trừ vào số tiền gốc mà P phải trả cho bị cáo, vậy là bị cáo K đã nhận lại số tiền gốc này nên buộc bị cáo K nộp sung quỹ nhà nước vì đây là phương tiện phạm tội.
  • Buộc Trịnh Thị Mỹ P nộp sung quỹ số tiền 150.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo thừa nhận từ ngày 03 tháng 10 năm 2019 đến ngày 09 tháng 12 năm 2019, bị cáo đã cho bà P vay tiền với mức lãi suất 01%/ngày (tương ứng 365%/năm), như vậy bị cáo đã cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của của Bộ luật Dân sự và bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 138.945.205đ. Cho nên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo về hình phạt:

Bị cáo cho bà P vay xuất phát từ ham lợi nhuận cao, mà bị cáo cũng là bị hại trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà bà P đã có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của bị cáo và bị cáo đã chủ động tố giác tội phạm.

Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự (gồm 2 tình tiết khoản 1 và 1 tình tiết khoản 2), gồm: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp 1 phần số tiền thu lợi bất chính, được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Việc bị cáo cho bà P vay không có tính chuyên nghiệp, hoạt động không phải hình thức băng, ổ nhóm. Do đó, theo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, sẽ xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.

Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Ngoài ra, do áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo đối với tiền có liên quan đến tội phạm:

Đối với số tiền người phạm tội dùng để cho vay 550.000.000đ: tại bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo nộp 480.000.000đ và bà P nộp 70.000.000đ, với lý do: bà P chưa trả bị cáo số tiền vay 70.000.000đ nên buộc bà P nộp sung quỹ Nhà nước; đối với số tiền còn lại là 480.000.000đ, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã buộc bà P có nghĩa vụ trả cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: xác định bà P vay bị cáo 03 lần với số tiền 480.000.000đ nhưng trong đó có số tiền 80.000.000đ vay ngày 09 tháng 12 năm 2019 không nằm trong số tiền truy tố nhưng cấp sơ thẩm lại tính luôn trong số tiền bị cáo dùng cho vay là không phù hợp và phải đối trừ số tiền này. Như vậy, trong số tiền bị cáo dùng để cho vay 550.000.000đ thì bà P còn chưa trả bị cáo số tiền 150.000.000đ, mà không phải 70.000.000đ như cấp sơ thẩm đã kết luận.

Như vậy, số tiền bà P chưa trả cho bị cáo là 150.000.000đ nên bà P có trách nhiệm nộp sung quỹ là 150.000.000đ và số tiền còn lại là 400.000.000đ.

Căn cứ vào Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, khi xử lý tội lừa đảo chiếm đtài sản đã đã đối trừ số tiền bà P trả vào tiền vay gốc và chỉ buộc bà P trả cho bị cáo số tiền 365.800.000đ (480.0000.000đ – 114.200.000đ). Như vậy, bà P đã trả cho bị cáo 114.200.000đ để trừ vào số tiền 400.000.000đ nên buộc bị cáo phải nộp lại 114.200.000đ (là khoản tiền cho vay và bị cáo đã thu).

Số tiền còn lại 285.800.000đ (400.000.000đ – 114.200.000đ): hiện nay bà P chưa trả cho bị cáo nhưng đã buộc bà P trả cho bị cáo theo Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vẫn buộc bị cáo nộp sung quỹ số tiền 285.800.000đ từ việc thi hành bản án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, buộc bị cáo nộp sung quỹ là 400.000.000đ và bà P là 150.000.000đ, tổng cộng 550.000.000đ (khoản tiền bị cáo dùng để cho vay). Trong đó, bị cáo đã thu của bà P số tiền 114.200.000đ và bị cáo tự nguyện nộp 20.000.000đ nên chuyển sang thu sung quỹ và số tiền còn lại bị cáo phải nộp là 94.200.000đ; số tiền còn lại vẫn buộc bị cáo nộp là 285.800.000đ nhưng sẽ được thực hiện trong qua trình thi hành án theo Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, trong số tiền 365.800.000đ.

[3] Đối với số tiền lãi tương ứng lãi suất cao nhất theo quy định của của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay là 8.054.795đ: tại bản án sơ thẩm buộc bị cáo nộp sung tịch thu sung quỹ là phù hợp.

[4] Đối với số tiền thu lợi bất chính là 138.945.205đ: theo Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận trong quá trình vay 480.000.000đ, bà P đã trả cho bị cáo 114.200.000đ nên đã đối trừ vào số tiền vay và còn lại buộc bà P trả cho bị cáo là 365.800.000đ (480.000.000đ – 114.200.000đ). Từ đó, cấp sơ thẩm đã đối trừ số tiền bà P đã trả cho bị cáo vào số tiền thu lợi bất chính mà bị có đã thu và buộc bị cáo trả lại cho bà P còn lại số tiền 24.745.205đ (114.200.000đ – 138.945.205đ). Do không bị kháng cáo hay kháng nghị và bị cáo đã đồng ý nên được Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm.

[6] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm d, đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh K.

    Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K mức phạt tiền 200.000.000đ.

  4. Căn cứ điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh K nộp tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 8.054.795đ.

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh K nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng để cho vay và bị cáo đã thu của bà P là 114.200.000đ. Bị cáo đã tự nguyện nộp 20.000.000đ theo Biên lai thu tiền số 0000637 ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nên được đối trừ và số tiền còn lại buộc bị cáo K phải nộp là 94.200.000đ.

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh K nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng để cho vay là 285.800.000đ (từ việc bà Trịnh Thị Mỹ P trả cho bị cáo K trong số tiền 365.800.000đ, khi thi hành án đối với Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và Bản án số 977/2022/HS-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh).

    Buộc bà Trịnh Thị Mỹ P nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 150.000.000đ.

    Buộc bị cáo Nguyễn Anh K trả cho bà Trịnh Thị Mỹ P số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo K đã thu của bà P là 24.745.205đ.

  5. Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị; không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

  6. Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Gửi Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Gửi Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - VKS, TA xét xử sơ thẩm;
  • - Gửi VP CQĐT Công an tỉnh Bạc Liêu;
  • - Gửi nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có);
  • - Gửi người kháng cáo;
  • - Gửi người có liên quan đến kháng cáo hoặc kháng nghị (nếu có);
  • - Gửi Cơ quan THA dân sự có thẩm quyền (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 14/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger