Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30 - 6 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thi và bà Trần Thị Hải Yến.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị H, sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Số D, đường D, phường T, quận B, Đài Loan (Trung Quốc); vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Triệu Thị H để giao, nhận tài liệu, văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Văn S và ông Phạm Tô Đan T; cùng đia chỉ liên hệ: Số I T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam; theo lời khai của chị Triệu Thị H hiện nay anh Nguyễn Đức H1 sống và lao động ở Đài Loan (Trung Quốc), không rõ địa chỉ cụ thể; vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị H và anh Nguyễn Đức H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam ngày 11/01/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Tháng 02 năm 2023 do kinh tế gia đình khó khăn chị H sang Đài Loan lao động để có thêm thu nhập phụ giúp gia đình. Đến tháng 12 năm 2023, anh H1 xuất cảnh sang Đài Loan lao động, nhưng hai vợ chồng làm việc ở hai thành phố khác nhau và rất ít gặp nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt, vợ chồng tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023. Chị đã nhiều lần liên lạc hỏi địa chỉ của anh H1 ở Đài Loan nhưng anh không cho chị biết. Nay chị H xác định tình cảm không còn, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Đức H1 ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn An Bảo C, sinh ngày 30/7/2021. Hiện nay cháu đang ở với ông bà nội là ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N. Khi ly hôn, chị đề Tòa án giao cháu Bảo C cho anh H1 nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay anh H1 chưa hết hợp đồng lao động nên chị nhờ ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N chăm sóc cháu trong thời gian anh H1 ở nước ngoài. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000/tháng cho đến khi cháu trưởng thành.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H tự nguyện nộp toàn bộ.

Quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N:

Về việc vợ chồng chị Nguyễn Thị H3, anh Nguyễn Đức H1 ly hôn: Đây là việc riêng của anh chị, ông bà không liên quan, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng anh H1, chị H3 có 01 con chung là Nguyễn An Bảo C, sinh ngày 30/7/2021. Năm 2023, vợ chồng anh H1 đi lao động tại Đài Loan, cháu Nguyễn An Bảo C do vợ chồng ông bà nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi cháu được 06 tháng tuổi, hiện tại cháu ngoan ngoãn, mạnh khỏe, phát triển tốt. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh H1, chị H3 ly hôn thì ông bà sẽ nhận trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bảo C cho đến khi anh H1 về nước sẽ giao cháu cho anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện tại gia đình không biết địa chỉ của anh H1 ở Đài Loan nên không cung cấp cho Tòa án được. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, vắng mặt phiên tòa lần 2, đề nghị Hội đồng xét xử theo thủ tục chung.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình: Xử ly hôn giữa chị Triệu Thị H và anh Nguyễn Đức H1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn An Bảo C cho anh Nguyễn Đức H1 chăm sóc, nuôi dưỡng; trong thời gian anh H1 ở nước ngoài, tạm giao cháu cho ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng; chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 07/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Bảo C đủ 18 tuổi. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Hiện nay anh H1 ở nước ngoài không rõ địa chỉ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bố, mẹ đẻ của anh Nguyễn Đức H1 là ông Nguyễn Đức H2, bà Trần Thị N1 và nhiều lần yêu cầu thân nhân của anh Hậu cung C1 địa chỉ của bị đơn nhưng không có kết quả, mặt khác Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn (Phiên tòa lần 02) theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị H và anh Nguyễn Đức H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/01/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Năm 2023, vợ chồng sang Đài Loan lao động nhưng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023, không quan tâm đến nhau. Nay chị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H1 ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại Điều 51, 56 và khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình, xử ly hôn giữa chị Triệu Thị H và anh Nguyễn Đức H1.

[3] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn An Bảo C, sinh ngày 30/7/2021. Hiện nay cháu đang ở với ông bà nội. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn An Bảo C cho anh H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Do anh H1 đang ở Đài Loan nên chị nhờ ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N (bố mẹ của anh H1) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu trong thời gian anh H1 ở nước ngoài. Phía ông H2, bà N nhất trí nhận trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bảo C cho đến khi anh H1 về nước. Do vậy, Hội đồng xét xử tạm giao cháu Nguyễn An Bảo C cho ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N chăm sóc, giáo dục từ tháng 7/2025, khi anh H1 về Việt Nam, ông H2 và bà N có trách nhiệm giao cháu Bảo C cho anh H1 trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định. Chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000/tháng kể từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung, riêng, công nợ, công sức đóng góp, ruộng cấy nông nghiệp và các vấn đề khác: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Án phí ly hôn sơ thẩm Chị H tự nguyện nộp toàn bộ nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của chị H.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị H phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 228, 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Triệu Thị H và anh Nguyễn Đức H1.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn An Bảo C, sinh ngày 30/7/2021 cho anh Nguyễn Đức H1 trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu 18 tuổi, trưởng thành tự lập. Chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000/tháng kể từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu 18 tuổi. Tạm giao cháu Nguyễn An Bảo C cho ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 7/2025. Khi anh H1 về Việt Nam ông H2, bà N có trách nhiệm giao cháu Nguyễn An Bảo C cho anh Nguyễn Đức H1 trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Triệu Thị H phải chịu 300.000đ. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002088 ngày 17/3/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
    • - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Triệu Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Triệu Thị H và anh Nguyễn Đức H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, ông Nguyễn Đức H2 và bà Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND tỉnh Hà Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Bố, mẹ anh Hiếu;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - UBND thị trấn Tân Thanh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Hải

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Năm 2023, vợ chồng sang Đài Loan lao động nhưng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023, không quan tâm đến nhau. Nay chị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H1 ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger