Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-06-2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận

Bà Hoàng Thị Thu Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 05 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QÐST-HPT ngày 12 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày: 15-05-1980; CCCD số: [...], cấp ngày: 10-04-2021, nơi cấp: Cục C về TTXH; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh ngày: 02-09-1975; CMND số: [...], nơi cấp: Công an tỉnh Đ; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày như sau:

+ Về tình cảm: Bà Nguyễn Thị T với ông Trần Văn T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 14-11-2008 tại UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận gần 01 năm thì ông Trần Văn T1 bỏ đi biệt tích không rõ nguyên nhân cho đến nay không có thông tin gì. Từ năm 2009 đến nay gia đình đã nhiều lần tổ chức đi tìm ông T1, hỏi thăm những người thân thích với ông T1 nhưng không đạt kết quả. Hiện nay gia đình cũng không biết ông T1 sống hay đã chết, nơi cư trú cuối cùng trước khi ông T1 bỏ đi là thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Bà T đã làm đơn xác nhận ông Trần Văn T1 bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2009 cho đến nay. Trước khi bỏ đi, ông T1 không cắt hộ khẩu ở địa phương. Do ông T1 bỏ đi không để lại địa chỉ nên bà Trần Thị T2 đã có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Trần Văn T1. Đến ngày 09-8-2024, TAND thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2024/QÐST-VDS tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Trần Văn T1. Mặc dù, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định nhưng từ đó đến nay ông T1 không trở về địa phương.

Do vợ chồng mất liên lạc với nhau đã lâu nên bà T2 nhận thấy tình cảm giữa chị với ông T1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Văn T1.

+ Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 01 con chung là Trần Nguyễn Thị Hà T3, sinh ngày 03-8-2009. Từ khi ông T1 bỏ đi con chung Trần Nguyễn Thị Hà Tiên sinh sống cùng bà T2 cho đến nay. Bà T2 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Nguyễn Thị Hà T3 và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng đều vắng mặt không có lý do trong các buổi làm việc như lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ôngTrần Văn T4.

Kết quả xác minh tại Công an phường K, thị xã K, xác nhận: Năm 2008, ông Trần Văn T1, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tái định cư H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) theo sổ đăng ký tờ số [...], hồ sơ hộ khẩu số 03, số đăng ký thường trú tờ số 83. Ngày 10-07-2010, do ông T1 bỏ đi không ai biết tung tích, địa chỉ sinh sống mới của ông T1 ở đâu nên chính quyền địa phương đã xóa tên ông T1 khỏi sổ hộ khẩu. Tại thời điểm xác minh, ông T1 không có mặt tại địa phương (nơi cư trú cuối cùng), qua kiểm tra trên hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư chính quyền địa phương không tìm thấy thông tin về ông T1, không biết ông T1 làm gì và ở đâu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Văn T1; Về con chung: Đề nghị giao con chung là Trần Nguyễn Thị Hà T3, sinh ngày 03-8-2009 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Trần Văn T1. Ông Trần Văn T1 có đăng ký nơi cư trú cuối cùng tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn ông Trần Văn T1 có hộ khẩu thường trú cuối cùng tại tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Trần Văn T1 tại nơi cư trú cuối cùng và trên phương tiện thông tin đại chúng. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Văn T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân:

Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn T1 tự do tìm hiểu kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 14-11-2008 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là UBND phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận gần 01 năm thì ông Trần Văn T1 bỏ đi biệt tích không rõ nguyên nhân cho đến nay không có thông tin gì.

Xét thấy, trong quá trình chung sống, ông T1 đã tự ý bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 2009, không quan tâm, chăm sóc gì đến vợ con. Bà T đã nhiều lần tìm kiếm, liên hệ và đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Việc bị đơn bỏ đi trong thời gian dài thể hiện thái độ bỏ mặc, không còn trách nhiệm với gia đình. Điều đó cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Văn T1.

[3.2]. Về con chung:

Trong thời kỳ hôn nhân bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn T1 có 01 con chung là Trần Nguyễn Thị Hà T3, sinh ngày: 03-8-2009. Từ khi ông T1 bỏ đi con chung Trần Nguyễn Thị Hà Tiên sinh sống ổn định cùng với bà T tại phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Xét thấy, nguyện vọng của bà T về việc được nuôi con là chính đáng. Vì vậy, cần giao con chung Trần Nguyễn Thị Hà T3 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành(tròn 18 tuổi). Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[4]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị T. Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Văn T1.

2. Về con cái: Giao con chung Trần Nguyễn Thị Hà T3 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành(tròn 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T về việc không yêu cầu ông Trần Văn T1 cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hướng xấu đến đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khẩu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008486 ngày 07-05-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh;
  • - Lưu Hồ sơ; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger